Hội Tin Lành Liên Hiệp

Vinh hiển thuộc về Chúa

Archive for the category “STUDY BIBLE”

STUDY BIBLE

” Study Bible through grammar.” ( Nghiên cứu Kinh thánh qua Văn phạm)

Nhân dịp MS Mai ở Hoa kỳ có trưng dẫn 10 bản dịch tiếng Việt và có đề cập đến văn phạm/ Ngữ pháp ( Grammar) Dịch thuật là một nghệ thuật văn học. có nhiều cách dịch : dịch sát nghĩa, phỏng dịch, dịch bay bướm… Ơ đây tôi chỉ chủ tâm đến dịch sát nghĩa lời Chúa, đặc biệt là không thoát ra ngoài ý nghĩa của lời kinh thánh. Muốn vậy chúng ta phải dựa trên một bản dịch mà đã được giới Cơ đốc công nhận, đó là bản NIV : New International Version” ( Bản Hiệu đính Quốc tế mới). Ngay cả từ Version tiếng Việt chúng ta cũng đã thay đổi theo thời gian: Nhuận chánh= Hiệu đính!!! Các tôi tớ Chúa đã phát biểu trong một buổi giới thiệu một bản dịch KT mới tiếng Việt rằng trên kệ sách ông ta có 4-5 bản dịch Kinh Thánh, nhưng ông ít dùng tới vì nó làm rối loạn … Ngày hôm nay MS Toàn Ái cũng nêu lên một bản so sánh giữa các bản dịch với lời cảnh báo. Điều này làm cho tôi được thúc dục nêu lên một câu Kinh mà MS Xuân Mai đã trích dẫn đến 10 bản dịch và đề cập đến vấn đề grammar.  MS Quốc Ấn cũng khuyến khích chúng ta lưu tâm về vấn đề câu cú này. Đó là câu KT Sáng thế ký  1:3 ” Let there be light, and there was light” ( NIV) Chính văn phạm giúp chúng ta hiểu đúng ý nghĩa của kinh thánh.

1/ Câu này là loại câu ghép ( compound sentence) có 2 mệnh đề độc lập . ( independent clauses), nối với nhau bằng một liên từ.

2/ Mệnh đề thứ nhất thuộc thể sai khiến ( impetative mood) và thể hiện bằng động từ ” let” ( hãy) ví dụ let us go! ( chúng ta hãy đi) There be = có. “There” là chủ từ giả định( expletive). to be phải ở nguyên mẫu không ” to” ( bare infinitive) vì theo sau ” let”. vậy mệnh đề đầu ta phải dịch Hãy có sự sáng ( mệnh lênh của Chúa phán ra) – mệnh đề thứ 2 được nối bằng một liên từ ( conjunction) ” and” có nghĩa là : và, và thì, thế thì… ” and there was light” thành ngữ ” there was.” có nghĩa là CÓ phải ở thì quá khứ ( simple past) vì sau khi Chúa phán thì nó đã xảy ra rồi.! Vấn đề từ ” light” là ánh sáng hay sự sáng đều được cả, nhưng tiếng Anh một từ có nhiều nghĩa , có từ rất nhiều nghĩa. muốn dịch rõ nghĩa của từ đó, ta phải dựa vào ngữ cảnh ( context) mà ta gọi là dùng phương pháp ngữ cảnh ( contextual method). trong trường hợp này từ ” light” dịch là sự sáng hơp lý hơn là ánh sáng.. cho nên mệnh đề thứ 2 có nghĩa là: VÀ RỒI THÌ đã có sự sáng./ VÀ LIỀN có sự sáng sau đó… Bây giờ quý vị có thể hiểu được rõ ràng và chính xác ý nghĩa của cáu kinh thánh: ” Let there be light, and there was light.” Câu kinh thánh này tôi tra xem đều viết giống nhau bằng tiếng Anh trong 3 bản NIV, NKJV, và NAS.

Nếu các bạn và quý vị yêu thích kinh thánh và muốn hiểu rõ ý nghĩa KT có thể tìm hiểu qua bản dịch NIV. ( dùng những từ , ngữ thông dụng, mới bên tiếng Anh.) Các bạn và quý vị có thể vào trang web của giáo hội ở mục” Study Bible through Grammar” để cùng nhau nghiên cứu với chúng tôi. Nếu quý vị hay bạn nào thấy câu kinh thánh nào mà 2 bản dịch khác nhau hòàn toàn là có vấn đề trong dịch thuật, Các bạn có thể gởi về cho tôi qua địa chỉ và điện thoai để cùng nghiên cứu. email : [email protected] com . dt 081 678 1250 ( viber, zalo và messenger) May God be with us all.

Tôi sẽ nhờ ơn Chúa Trích những câu kinh thánh mà đã dịch ” thoát nghĩa” trong bản truyền thống để cùng nhau nghiên cứu thông qua Grammar!

Vũng tàu June 5th, 2021 at 3:20 am.

Ms Hội trưởngNguyễn Đức Na

STUDY BIBLE

Nghiên cứu Kinh Thánh qua Văn phạm” Dựa vào câu kinh thánh ở bản dịch NIV và 2 bản dịch tiếng Việt ( VIE 1925 và NVB) để lời Chúa được sáng tỏ.

“Vậy, hãy tỉnh-thức luôn và cầu-nguyện, để các ngươi được tránh khỏi các tai-nạn sẽ xảy ra, và đứng trước mặt Con Người.”  Lu-ca‬ ‭21:36‬ ‭VIE1925‬‬

“Hãy luôn luôn cảnh giác và cầu nguyện để các con có thể thoát khỏi mọi điều sắp xảy ra và trình diện trước mặt Con Người.”  Lu-ca‬ ‭21:36‬ ‭NVB

“Be always on the watch, and pray that you may be able to escape all that is about to happen, and that you may be able to stand before the Son of Man.”  Luke‬ ‭21:36‬ ‭NIV‬‬

Xin nghiên cứu các thành ngữ và từ trong câu này ở NIV để chúng ta có thêm một cách dịch sang tiếng mẹ đẻ ( Vietnamese) của chúng ta với sự can thiệp soi dẫn của Thánh Linh. Bản thân tôi, chưa thỏa mãn với 2 bản dịch mà tôi có trích dẫn. Mỗi bản có ý hay của nó.

1/ To be on the watch: canh gác ( phải tỉnh thức không được lơ là đặc biệt canh khuya cũng không được ngủ gục. Nhưng ở đây nói về tâm linh của người thờ phượng chúa thì “ thức canh” là hợp lý.

2/ “To be about to” sắp, sẽ (xảy ra) trong tương lai gần có chủ định.

3/ “ To be able to” : có thể ( chỉ khả năng)

4/ “ Stand before God”: đứng vững trước ( mặt) Con Người .( Chúa Jesus)

5/ “ Son of Man” Con Người: Viết Hoa ( Capital letter) cả 2 từ.

Theo sự chỉ tỏ của Chúa Thánh linh, tôi hiểu câu kinh thánh này như sau: Hãy luôn luôn thức canh và cầu nguyện để các ngươi có thể tránh khỏi các điều sắp xảy ra và có thể đứng vững trước mặt Con Người.

Mục sư Nguyễn Đức Na Hội Trưởng Giáo Hội Tin Lanh Liên Hiệp Toàn Cầu- Việt nam.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHƯƠNG PHÁP HỌC KINH THÁNH VÀ QUY LUẬT GIẢI KINH

Mathio 7:6 ( 1925)  “Đừng cho chó những đồ thánh, và đừng quăng hột trai mình trước mặt heo, kẻo nó đạp dưới chân, và quay lại cắn xé các ngươi.”

Math.   7:6 ( NIV)   “Do not give dogs what is sacred; do not throw your pearls to pigs. If you do, they may trample them under their feet, and turn and tear you to pieces.”

Khi dạy môn học này, tôi đưa câu Kinh thánh Này để thực hành ( giải nghĩa)

Hầu hết các học viên ( các quản nhiệm) đều hiểu nghĩa đen “ chó” và” heo” còn nghĩa bóng thì hầu như họ không tìm thấy .

Theo nguyên tắc giải kinh, tôi gợi ý đọc tiền văn : câu 1-5. Học viên đã tìm được nghĩa bóng của câu 6: “ chó và heo” là kẻ giả hình ( đạo đức giả/ hypocrite. Trong KT người Pha-rí-si là kẻ giả hình, họ luôn luôn dùng lời Kinh thánh để chỉ trích người khác nhưng họ thì không làm theo lời KT.)

Nếu đọc thêm bản Kinh tiếng Anh ( NIV) và nghiên cứu thêm 2 từ ( words)

Chó ( dog) và heo ( pig) thì ý nghĩa của câu 6 được sáng tỏ rỏ ràng.

Trong từ điển Anh-Việt “ Lạc Việt” thì:

1/ Từ “ dog” ( chó) ngoài nghĩa sinh vật học là: chó, cẩu, khuyển và các loại cùng họ như sói, cáo ..

Nó còn có nghĩa là: – kẻ đê tiện; – kẻ đáng khinh; nghĩa dễ hiểu nhất mà dân gian thường gọi là “ đồ chó má” với ý là  vong ơn nội nghĩa, lừa thày phản bạn…

2/ Từ “ pig” ( heo) có nghĩa sinh vật học là con heo, con lợn nuôi trong  nhà hay la heo hoan trong rừng.

Ngoài ra từ heo còn có nghĩa bóng là:

– Kẻ tham lam ( the greedy)

– Kẻ bẩn  thiểu. ( the dirty )

– Kẻ chỉ điểm, mật vụ, ân ten ( secret agent)

 Như vậy ý nghĩa  của câu KT  này là : đừng cho hạng người chó má  những vật gì thánh và đừng cho loại người tham lam ( tham lam không khác gì thờ hình tuiượng/ loại người mà Đức Chúa Trời ghét nhất.) ngọc trai quý giá vì chúng chúng dẫm nát dưới chân và quay lại cắn xé chúng ta ra nhiều mảnh.

Môn học “ Phương pháp nghiên cứu Kinh thánh và quy luật giải kinh “ là môn học đòi hỏi người học phải tận tâm, tận lực, nổ lực bổ sung kiến thức với một lòng khiêm nhường cậy trông sự soi dẫn của Đức Thánh Linh thì mới hiểu được ý muốn của Chúa qua lời Ngài.

Đặc biệt là người chăn bầy ( Quản nhiệm hội thánh) phải biết  giải nghĩa KT thì mới học tiếp môn học “ Phương pháp soạn bài giảng” có kết quả được.

Mục sư Nguyễn Đức Na

Hội Trưởng GH TLLHTC-VN

STUDY BIBLE

youth-bible-study-bible-study-Wi3wAQ-clipart

God’s Thoughts and Ways

Isaiah 55:8-9

“For my thoughts are not your thoughts, neither are your ways my ways,” declares the Lord. 9 “As the heavens are higher than the earth, so are my ways higher than your ways and my thoughts than your thoughts.

How do you grow spiritually? I am not talking about growing sideway, meaning gaining weight; but growing in faith, from inside out.  The spiritual growing process consists of 4 simple steps: 1) Hearing God, 2) Understand His call for your life, 3) obey, and 4) bear fruits. Today, we will focus on the second step – How to understand God’s will for your life? The basic of understanding God’s will is to know the ways how God acts. This is basic but important, so that we always think and do the right things for God, to pray correctly and be blessed. A matured Christian belong to Christ is the one when he does anything always asks himself: Is this God’s will? Am I doing it God’s way? The Bible in Isaiah 55 said – God’s ways and thoughts often are different from ours. The main reason is this – common men think common ways, but God is NOT a common man. We are sinners, and our mind is polluted with sins; so, our thinking and doing many times are crooked in compared to God’s standards and ways. In John 12 recorded an event when Lazarus family served a dinner in honoring of Jesus at Bethany, then unexpectedly Mary took about a pint of an expensive perfume; she poured it on Jesus’ feet and wiped his feet with her hair. But one of Jesus’ disciples, named Judas Iscariot, objected with his thought and said – “Why wasn’t this perfume sold and the money given to the poor? It was worth a year’s wages.” His common thought was motivated by the greed of money, and not knowing that this act of Mary was a pre-anointment for the day of Jesus’ burial, that was God’s way for a savior to die for our sins. In Matthew 16 recorded the time on Jesus began to explain to his disciples that he must go to Jerusalem and suffer many things at the hands of the elders, the chief priests and the teachers of the law, and that he must be killed and on the third day be raised to life. But then how did Peter response to that? “Peter took Jesus aside and began to rebuke him. “Never, Lord!” he said. “This shall never happen to you!”  Then “Jesus turned and said to Peter, “Get behind me, Satan! You are a stumbling block to me; you do not have in mind the concerns of God, but merely human concerns.” Peter’s common thought was only focused on the human temporary needs, and not the way of God the Father had planned to save the whole world through the death of His Son.

God’s ways and thoughts are often more difficult than we normally think. As human, we tend to think of easy ways to provide the best comfort for our flesh, but that’s NOT always how God works. Our easy ways often cannot accomplish the “big” things for God. Was the way to the cross, at the hill of Golgotha easy for Jesus? He was beaten to near death, and shamefully nailed to the cross. It was a difficult way God acted to provide an easiest way for mankind to be saved. That’s why Paul said in 1 Corinthians 1:18 – “For the message of the cross (God’s difficult way) is foolishness to those who are perishing, but to us who are being saved it is the power (and wisdom) of God,”

Not just different and difficult, but the Bible said God’s ways and thoughts are higher than ours. Jesus’ vision is higher than ours, because it always focuses on the Whole Wide world. Jesus always focuses about the kingdom of God, about the eternity, and the souls of men, and not just the temporary things on this earth. In the occasion Jesus healed a paralyzed man, He said to the man – “Your sins are forgiven,” because “What good will it be for someone to gain the whole world, yet forfeit their soul? or what can anyone give in exchange for their soul?” Jesus saw his soul in eternity, in the kingdom of God is more important, or “higher” than just physical healings. Jesus taught His disciples to pray of a higher plane: “This, then, is how you should pray – Our Father in heaven, hallowed be your name, your kingdom come, your will be done, on earth as it is in heaven.” God’s thoughts and ways through Jesus are higher than ours, because they are focused on the kingdom in heaven, and not just on earth; about salvation to all sinful men, women, and children. Because of these thoughts and ways, Jesus established the church and gave a commandment in Matthew 28:19-20 – “Therefore go and make disciples of all nations, baptizing them in the name of the Father and of the Son and of the Holy Spirit, and teaching them to obey everything I have commanded you. And surely I am with you always, to the very end of the age.” The apostle Paul understood this “higher” thoughts and ways of God about the kingdom of heaven to all mankind, so that he spent the rest of his life to preach the gospel of Jesus Christ to the gentiles through 3 mission trips. As a result, the Gospel has been reached to all the world today.

This understanding is important so that we learn to think like God, and not as common man. This understanding is important so that we act liked God, and not our common ways. God’s thoughts and ways are so high that make our ways are so small. Have you experienced flying an air plane looking out the window at night? As the plane takes off, you start seeing houses and cars becoming liked little toys; then as the plane gets up higher and higher, these houses became just small dots. The more you think of God’s ways – “flying high,” the more your ways shrink. We must think higher liked God; so, we do not limit Him and His power with our miniature thoughts and ways. I believe that one of the main reasons the today churches are not successful, including VHBC is because we still think and do things our own ways, and not God’s ways. I often pray for all church leaders to have “big” visions for God, as God thinks and not as I or the church think. I often dream that VHBC one day will no longer be just for the Vietnamese, but an international church for all people – The Khmer, Spanish speaking people, black, Japanese, Laos… We limit God when we just want VHBC to be in our comfort circle of the Vietnamese people only. Please don’t misunderstand me; Vietnamese culture are precious, but Jesus came to this world not just died for the Americans, for the Vietnamese, but for all sinful men, women, and children. This thought may make you feel uncomfortable, but God’s thoughts and ways are higher than ours. This understanding of God’s thoughts and ways will help us to think big for God, to think “outside the box,” and experience that “I (and we) can do all this through Him who gives me and you strength,” as said in Philippians 4:13. We must have a higher attitude of “can do” with the power of the Holy Spirit. Our God is big, powerful and strong; there is nothing impossible for Him.

“Be like Christ” and “think liked Jesus!” and accomplish great things for the Lord to bring His glory at the end. God’s thoughts and ways are in Jesus Christ, His Son, when Jesus proclaimed in John 14:6 – “I am the way and the truth and the life. No one comes to the Father except through me.” God’s ways are illustrated in the life of Jesus and His teachings, simply because He is the Way, the truth, and the life. Practice “WWJD” (What Would Jesus Do) in everything to know God’s will for your life, and the way how you should act, or make all decisions in life. We must have a desire liked David – He often asked God to teach him the ways how God acts. In Psalms 25:4 David said “Show me your ways, Lord, teach me your paths.” In Psalms 85:11 David said again “Teach me your way, Lord, that I may rely on your faithfulness; give me an undivided heart, that I may fear your name. May His Spirit put in our heart the desire of seeking God’s thoughts and doing His ways always.

INTRODUCTION:

Dear the readers who are interesting in ” Study Bible in English ” column in our website.
This time we help you to study a sermon in English which is very useful for our spiritual lives. Please follow our guide:
You study the ” New words and special grammar” in the sermon.
Then you study yourselves to understand and to get the God’s will for your lives …
I/ New Words:
– Thought (n) ý thưởng.
– Spiritually ( adv) có tính cách thiêng liêng ( thuộc linh).
– Process ( n) : tiến trình.
– to focus (v) tập trung vào một điểm.
– Matured (a) sai quả.
– Polluted ( a): bị ô nhiễm.
– Crooked (a) lương lẹo; khong thật thà.
– Stumbling block ( vật chướng ngại)
– to tend (v): có xu hướng.
– Eternity ( n): Vĩnh cửu, bất diệt…
– Forfeit soul: để mất linh hồn.
– To establish: thiết lập.
– Apostles ( n) sứ đồ .
– Discipline ( n): môn đồ.
– mankind(n): loài người.
– The rest of his life: quản đời còn lại của ông ta.
– Gentiles (n): người ngoại đạo.
– As a result ( idiom) : kết quả là.
– To shrink (v) co rút lại.
– Miniature ( adj): ( thu) nhỏ.
– Spanish- speaking people: người nói tiếng Tây ban Nha.
– impossible (adj) không có thể.
– To illustrate(v) minh họa.
– desire ( n) Lòng ao ước.

II/ REMARKABLE  GRAMMARS.
1/ “Neither” stands at the beginning, we must use inversion ( đảo ngữ) = not either.( cũng không)
2/ The same as “so”
So are…= are,too ( cũng vậy)
3/ Jesus’ vision: Khải tượng của Chúa Jesus ( possessive case)
4/ The more + clause, the more+ clause : càng ngày càng….
5/ May His Spirit put in our hearts the desires of….
This is the kind of sentence which incactes/ shows a wish or a prayer, so we must use the finite verb in the subjunctive present tense.( thì hiện tại bàng thái/ giả định)
Now you should read over the sermon one time. If you can not understand easily, never despair!
Study the new words and grammar again carefully.
Now you can ready again and again till you understand clearly. So you can get the Spirit’s guides
for your lives.
I think you will be interested to complete the “filling test” below ( bài tập điền từ)
May God make you pleased with your study His words.
Mục sư Joseph Na.
You also can refer MS Vinh’s translation below with interesting examples and Invitation,too.

III/ FILLING TEST

  • How do you grow spiritually?

  • The spiritual growing process consists of 4 simple steps: 1) _________ God, 2) Understand His call, 3) Obey, & 4) Bear fruits.

  • Today, we will focus on the second step – How to understand God’s will for your life?

  • The basic of understanding God’s will is to know the ways how God ______.

  • This is basic but important, so that we always _______ and do the right things for God, to pray correctly and be blessed.

  • A matured Christian when he does anything always asks himself: Is this God’s will? Am I doing it God’s _____?

  • The Bible in Isaiah 55 said – God’s ways and thoughts often are __________ from ours.

  • The main reason is this – common men think common ways, but God is ____ a common man.

  • We are sinners, and our mind is polluted with ____; so, our thinking and doing many times are crooked in compared to God’s standards and ways.

  • God’s ways and thoughts are often more ________ than we normally think.

  • As human, we always think of easy ways to provide the best comfort for our ______, but that’s NOT always how God works.

  • Our easy ways often cannot accomplish the “____” things for God.

  • Was the way to the cross, at the hill of Golgotha easy for Jesus?

  • Not just different and difficult, but the Bible said God’s ways and thoughts are ______ than ours.

  • Jesus’ vision is higher than ours, because it always focuses on the _______________.

  • Jesus always focuses about the kingdom of God, about the _________, and the souls of men.

  • Jesus taught His disciples to pray of a higher plane: “This, then, is how you should pray – Our Father in heaven, hallowed be your name, your ____________ come, your will be done, on earth as it is in heaven.”

  • Because of these thoughts and ways, Jesus established the __________ and gave the great commission.

  • The apostle Paul understood this “higher” thoughts and ways of God about the kingdom of heaven to all mankind, so that he spent the rest of his life to preach the gospel of Jesus Christ to the gentiles through three ________ trips. As a result, the Gospel has been reached to all the world today.

  • This understanding is important so that we learn to think like ____, and not as common man.

  • This understanding is important so that we ____ liked God, and not our common ways.

  • God’s thoughts and ways are so high that make our ways are so ______.

  • I believe that one of the main reasons the today churches are not successful, including VHBC is because we still think and do things our ____ ways, and not God’s ways.

  • I often pray for all church _________ to have “big” visions for God.

  • I often dream that VHBC one day will no longer be just for the Vietnamese, but an _____________ church for all people.

  • We _____ God when we just want VHBC to be in our comfort circle of the Vietnamese people only.

  • Vietnamese cultures are precious, but Jesus came to this world not just died for the Americans, for the Vietnamese, but for ____ sinful men, women, and children.

  • This thought may make you feel ______________, but God’s thoughts and ways are higher than ours.

  • This understanding of God’s thoughts and ways will help us to think “outside the _____.”

  • We must have a higher attitude of “_______” with the power of the Holy Spirit.

  • Our God is big, powerful and strong; there is _________ impossible for Him.

  • “Be like ______” and “think liked Jesus!” and accomplish great things for the Lord to bring His glory at the end.

  • Practice “_____” in everything to know God’s will for your life, and the way how you should act.

  • May His Spirit put in our heart the _______ of seeking God’s thoughts and doing His ways always.

Ý Tưởng Và Đường Lối Chúa

(Êsai 55:8-9)

God’s Thoughts and Ways

“Đức Giê-hô-va phán: Ý tưởng Ta chẳng phải ý tưởng các ngươi, đường lối các ngươi chẳng phải đường lối Ta. 9 Vì các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối Ta cao hơn đường lối các ngươi, ý tưởng ta cao hơn ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu.”

(For my thoughts are not your thoughts, neither are your ways my ways,” declares the Lord. 9 “As the heavens are higher than the earth, so are my ways higher than your ways and my thoughts than your thoughts.)

I/Step Two

> How do you grow spiritually? (Bạn có đang kinh nghiệm sự tăng trưởng cho đời sống thuộc của mình không?)

# I am not talking about growing sideway, meaning gaining weight; but growing in faith, from inside out. (Tôi không có nói tăng trưởng “bề ngang,” nghĩa là mập phì ra; nhưng là tăng trưởng đức tin của mình từ bên trong ra ngoài.)

> The sermon two weeks ago has helped us to know the spiritual growing process which consists of 4 simple steps:

1) Hearing God,

2) Understand His call for your life,

3) Obey, and

4) Bear fruits.

(Cách đây 2 tuần lễ tôi có nhắc đến tiến trình tăng trưởng thuộc linh của một người cơ đốc gồm có 4 bước căn bản: 1) Lắng nghe tiếng Chúa, 2) Thông hiểu ý Chúa, 3) Vâng lời, và 4) Sai trái Thánh Linh trong đời sống mình.)

> Today, we will focus on the second step – How to understand God’s will for your life? (Hôm nay c/ta chú tâm học hỏi về bước thứ hai đó là thông hiểu ý Chúa cho đời sống mình.)

> The basic of understanding God’s will is to know the ways how God acts. (Muốn thông hiểu ý Chúa, điều căn bản c/ta phải hiểu đường lối của Chúa, cách Ngài hay hành động.)

> This is basic but important, so that we always think and do the right things for God, to pray correctly and be blessed. (Đây là điều rất căn bản, nhưng rất quan trọng để c/ta luôn làm đúng theo ý Chúa, đường lối Ngài, cầu nguyện đúng cách mà được phước.

> First, we must have the same mindset as Jesus Christ when He was on earth always sought to do the Father’s will, according to God’s way and timing, and not His own. (Điều thứ nhất c/ta phải có tâm tình giống như Chúa Giê-su, khi Ngài còn ở trên đất, luôn tìm kiếm ý của Cha Ngài và làm theo đúng cách, đúng thời điểm Chúa muốn, chứ không theo ý riêng mình.)

# John 8:28-29 – “Jesus said, “When you have lifted up the Son of Man (put Jesus on the cross), then you will know that I am he and that I do nothing on my own but speak just what the Father has taught me. The one who sent me is with me; he has not left me alone, for I always do what pleases him.” (Trong Giăng 8:28-29, Chúa Giê-su nói gì về chức vụ của mình? “Khi các ngươi treo Con người lên, bấy giờ sẽ biết ta là ai, và biết ta không tự mình làm điều gì, nhưng nói điều Cha ta đã dạy ta. 29 Đấng đã sai ta đến vẫn ở cùng ta, chẳng để ta ở một mình, vì ta hằng làm sự đẹp lòng Ngài.”)

> A matured Christian is the one when he does anything always asks himself: Is this God’s will? Am I doing it God’s way? (Một người cơ đốc thật thì khi người đó làm bất cứ việc gì thì cũng thường tự hỏi: “Việc tôi làm có phải ý Chúa không? Cách tôi làm có theo đường lối của Ngài không?”)

II/God’s Thoughts and Ways

1) The Bible in Isaiah 55 said – God’s ways and thoughts often are different from ours. (Kinh Thánh Êsai 55 cho c/ta biết – ý tưởng và đường lối của Chúa rất thường khác với ý tưởng của c/ta.)

> The main reason is because common men think common ways, but God is NOT a common man. (Lý do căn bản là như thế này – người thường thì điều tự nhiên có những ý tưởng tầm thường; nhưng Đức Chúa Trời không phải là người thường; Ngài là Đấng Chí Cao.)

> We are sinners, and our mind is polluted with sins; so, our thinking and doing often are crooked in compared to God’s standards and ways. (C/ta là những kẻ tội nhân; ý tưởng của c/ta thường bị nhiễm bởi tội lỗi; cho nên đường lối của c/ta rất nhiều lúc bị cong quẹo, không theo ý, tiêu chuẩn hay đường lối của Chúa.)

  1. a) In John 12 recorded an event when Lazarus family served a dinner in honoring of Jesus at Bethany, then unexpectedly Mary took about a pint of an expensive perfume; she poured it on Jesus’ feet and wiped his feet with her hair. (Trong Giăng 12 có chép về sự kiện gia đình của Laxarơ đãi tiệc Chúa Jêsus tại thành Bê-tha-ni, thì bất thình lình trong bữa tiệc Ma-ri lấy một cân dầu cam tùng hương thật, rất quí giá, xức chân Đức Chúa Jêsus, và lấy tóc mình mà lau.)

> But one of Jesus’ disciples, named Judas Iscariot, objected with his thought and said – “Why wasn’t this perfume sold and the money given to the poor? It was worth a year’s wages.” (Nhưng Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, là một môn đồ về sau này phản Ngài, nói rằng: “Sao không bán dầu thơm đó lấy ba trăm đơ-ni-ê đặng bố thí cho kẻ nghèo?”)

> The Bible said he did not say this because he cared about the poor, but because he was a thief; as keeper of the money bag, he used to help himself to what was put into it. (Kinh Thánh chép – Người nói vậy, chẳng phải lo cho kẻ nghèo đâu, song vì người vốn là tay trộm cắp, và giữ túi bạc, trộm lấy của người ta để ở trong.”

> His common thought was motivated by the greed of money, and not knowing that this act of Mary was a pre-anointment for the day of Jesus’ burial, that was God’s way for a savior to die for our sins. (Ý tưởng của Giuđa là bởi lòng tham lam tiền bạc, mà không nhận biết hành động của Mari là để xức dầu cho sự chết và chôn của Chúa Giê-su, là đường lối của Đức Chúa Trời sẽ cứu nhân loại.)

  1. b) In Matthew 16 recorded the time on Jesus began to explain to his disciples that he must go to Jerusalem and suffer many things at the hands of the elders, the chief priests and the teachers of the law, and that he must be killed and on the third day be raised to life. (Trong Mathiơ 16 có chép lúc Đức Chúa Jêsus bắt đầu tỏ cho môn đồ biết rằng mình phải đi đến thành Giê-ru-sa-lem, phải chịu tại đó nhiều sự khốn khổ bởi những người trưởng lão, thầy tế lễ cả, cùng thầy thông giáo, và phải bị giết, đến ngày thứ ba phải sống lại.)

> But then how did Peter response to that? “Peter took Jesus aside and began to rebuke him. “Never, Lord!” he said. “This shall never happen to you!” (Sau khi nghe như vậy thì Phi-e-rơ đã phản ứng như thế nào? Phiêrơ bèn đem Ngài riêng ra, mà can rằng: “Hỡi Chúa, Đức Chúa Trời nào nỡ vậy! Sự đó sẽ không xảy đến cho Chúa đâu!”)

> Then “Jesus turned and said to Peter, “Get behind me, Satan! You are a stumbling block to me; you do not have in mind the concerns of God, but merely human concerns.” (Nhưng Chúa Giê-su xây mặt lại mà phán cùng Phi-e-rơ rằng: “Ớ Sa-tan, hãy lui ra đằng sau ta! Ngươi làm gương xấu cho ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người ta.”)

> Peter’s common thought was only focused on the human temporary needs, and not the way of God the Father had planned to save the whole world through the death of His Son. (Ý tưởng của Phiêrơ chỉ nghĩ đến công việc của con người, cho dân tộc mình một Đấng giải phóng khỏi ách nô lệ của người Lamã, nhưng không thấy đường lối cứu chuộc của Đức Chúa Trời cho thế giới qua sự chết của Con Ngài.)

  1. c) In John 9, when Jesus’ disciples saw a man blind from birth, they asked Him, “Rabbi, who sinned, this man or his parents, that he was born blind?” (Trong Giăng 9 có chép khi các môn đồ của Chúa thấy một người mù từ thuở sanh ra thì hỏi Chúa – “Thưa thầy ai đã phạm tội, người hay là cha mẹ người, mà người sanh ra thì mù như vậy?”)

> Jesus answered – “Neither this man nor his parents sinned, but this happened so that the works of God might be displayed in him.” (Nhưng Đức Chúa Jêsus đáp rằng: “Đó chẳng phải tại người hay tại cha mẹ đã phạm tội; nhưng ấy để cho những việc Đức Chúa Trời được tỏ ra trong người.”)

> The common thought of man is that suffering is always a result of sins, but to God sometimes through suffering, God’s power can be displaced for His glory. (Ý tưởng thông thường của con người đó là sự đau khổ luôn là hậu quả của tội lỗi, nhưng có lúc đường lối của Chúa cho phép những sự đau khổ xảy ra để làm cơ hội cho quyền phép Chúa Giê-su được bày tỏ ra, đem đến sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời.)

2) God’s ways and thoughts are often more difficult than we normally think. (Ý tưởng và đường lối của Chúa rất thường không dễ dàng như c/ta hay suy nghĩ.)

> As human, we tend to think of easy ways to provide the best comfort for our flesh, but that’s NOT always how God works. (Theo bản tánh tự nhiên của xác thịt thì ý tưởng của c/ta luôn muốn tìm những đường lối thoải mái, dễ dàng, tiện lợi nhất; nhưng nhiều khi đây không phải là đường lối của Chúa hành động.)

> Our easy ways often cannot accomplish the “big” things for God. (Đường lối dễ dàng theo sự suy nghĩ của con người thường không thể nào làm thành những việc lớn và khó cho Chúa được.)

> From last week sermon, we learned that the way to the eternal life is a narrow gate, meaning “difficult,” and a few will find it. (Trong bài giảng tuần trước đây, c/ta thấy đường lối Chúa ban cho sự sống đời đời là một cánh cửa hẹp, nghĩa là khó, và những kẻ kiếm được thì ít, phải không?)

> Was the way to the cross, at the hill of Golgotha easy for Jesus? (Con đường thập tự lên đồi Gôgôtha có phải là con đường dễ dàng thoải mái cho Chúa Giê-su không?)

> He was beaten to near death, and shamefully nailed to the cross. (Chúa Giê-su bị đánh đập tàn nhẫn và cuối cùng bị đóng đinh nhục nhã, chết trên cây thập tự trước mắt mọi người.)

> It was a difficult way God acted to provide an easiest way for mankind to be saved. (Con đường thập tự là con đường khó của Đức Chúa Trời đã làm qua Con Ngài, để cung cấp một con đường dễ cho mọi người được cứu.)

> That’s why Paul said in 1 Corinthians 1:18 – “For the message of the cross (God’s difficult way) is foolishness to those who are perishing, but to us who are being saved it is the power (and wisdom) of God,” (Vì vậy mà sứ đồ Phaolô trong 1 Côrinhtô 1:18 có nói – “Bởi vì lời giảng về thập tự giá (Đường lối khó khăn của Chúa) thì những người hư mất cho là điên dại; song về phần chúng ta, là kẻ được cứu chuộc, thì cho là quyền phép (và sự khôn ngoan) của Đức Chúa Trời.”)

3) Not just different and difficult, but the Bible said God’s ways and thoughts are higher than ours. (Không phải đường lối Chúa khác và khó thôi, Kinh Thánh chép ý tưởng của Chúa còn cao hơn của c/ta nữa.)

> Jesus’ vision is higher than ours, because it always focuses on the Whole Wide world (WWW). (Ý tưởng của Chúa cao hơn là vì luôn nhắm đến cả thế giới không chừa một ai hết.)

# I think the www. (World Wide Web) stole the idea from Jesus. (Mạng lưới toàn cầu Internet www. thiết nghĩ đã mượn ý này của Chúa mà thành công cho đến ngày hôm nay.)

> Jesus always focuses about the kingdom of God, about the eternity, and the souls of men, and not just the temporary things on this earth. (Ý tưởng và đường lối Chúa luôn nhắm về nước của Đức Chúa Trời, về thế giới tương lai đời đời, về linh hồn của loài người, chứ không chỉ chú tâm đến những điêu thuộc thế gian tạm bợ này thôi.)

3.a) In the occasion Jesus healed a paralyzed man, He said to the man – “Your sins are forgiven,” why? Because “What good will it be for someone to gain the whole world, yet forfeit their soul? or what can anyone give in exchange for their soul?” (Sự kiện sau khi Chúa Giê-su chữa lành một người bị liệt thì Ngài đã nói gì với người đó? “Tội con đã được tha.” Tại sao? Vì “người nào nếu được cả thiên hạ (được lành bịnh) mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Vậy thì người lấy chi mà đổi linh hồn mình lại?” Mathiơ 16:26)

> Jesus saw his soul in eternity, in the kingdom of God is more important, or “higher” than just physical healings. (Chúa Giê-su thấy rõ nhu cầu cho linh hồn của người đó được ở trong nước thiên đàng đời đời là điều quan trọng hơn cho sự chữa lành thuộc thể.)

3.b) When Jesus saw a lost crowd, what did He tell His disciples to do in Matthew 9:35-38 – “Jesus went through all the towns and villages, teaching in their synagogues, proclaiming the good news of the kingdom and healing every disease and sickness. When he saw the crowds, he had compassion on them, because they were harassed and helpless, like sheep without a shepherd. Then he said to his disciples, “The harvest is plentiful but the workers are few. Ask the Lord of the harvest, therefore, to send out workers into his harvest field.” (Trong Mathiơ 9:36-38 – khi nhìn thấy đám đông người thì Đức Chúa Jêsus đã làm gì? “… thì động lòng thương xót, vì họ cùng khốn, và tan lạc như chiên không có kẻ chăn (nghĩa là những người lạc mất đang trên đường dẫn đến sự hư mất đời đời trong hồ lửa địa ngục). Cho nên Ngài bèn phán cùng môn đồ rằng: Mùa gặt thì thật trúng, song con gặt thì ít. Vậy, hãy cầu xin chủ mùa gặt sai con gặt đến trong mùa mình,” nghĩa là đến rao giảng Tin Lành cho họ.)

3.c) Jesus taught His disciples to pray of a higher plane: “This, then, is how you should pray – Our Father in heaven, hallowed be your name, your kingdom come, your will be done, on earth as it is in heaven.” (Kể cả khi Chúa Giê-su dạy các môn đồ cầu nguyện, Ngài dạy dỗ gì? “Lạy Cha chúng tôi ở trên trời; Danh Cha được thánh; Nước Cha được đến; Ý Cha được nên, ở đất như trời!”)

> God’s thoughts and ways through Jesus are higher than ours, because they are focused on the kingdom in heaven, and not just on earth; about salvation to all sinful men, women, and children. (Ý tưởng và đường lối của Chúa luôn cao hơn của c/ta vì Ngài luôn muốn cứu mọi người.)

3.d) Because of these thoughts and ways, Jesus established the church and gave a great commandment in Matthew 28:19-20 – “Therefore go and make disciples of all nations, baptizing them in the name of the Father and of the Son and of the Holy Spirit, and teaching them to obey everything I have commanded you. And surely I am with you always, to the very end of the age.” (Vì ý tưởng của Chúa cao hơn của c/ta, nên Ngài đã thiết lập nên Hội Thánh và trao cho đại mạng lệnh – “Hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà Ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, Ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.”)

> The apostle Paul understood this “higher” thoughts and ways of God about the kingdom of heaven to all mankind, so that he spent the rest of his life to preach the gospel of Jesus Christ to the gentiles through 3 mission trips; As a result, the Gospel has been reached to all over the world today. (Sứ đồ Phaolô hiểu rõ về ý tường và đường lối cao hơn của Chúa, cho nên ông đã bỏ cả cuộc đời còn lại của mình qua 3 chuyến truyền giáo đem Tin Lành đến cho những người ngaọi, mà từ đó đạo Chúa được lan rộng ra cho đến ngày nay qua Hội Thánh của Ngài.)

> Couple weeks ago I have learned a lesson about this truth why helping Tuan Hong – the international student. (Mấy tuần qua tôi học được bài học này trong khi cố gắng giúp đỡ em Tuấn ở đây vào học trong LSU.)

> It hit me suddenly after the service that he needs to attend LSU by the following Tuesday. How can I help? Where will he stay? Who is going to bring him to school? (Thình lình tôi biết được nhu cầu của em trong một Chúa Nhật sau nhóm là cần phải nhập học ngay thứ Ba sau đó. Tôi suy nghĩ ngay không biết có ai giúp đỡ không? Ai sẽ đem em đi lo hết những giấy tờ, chở đi học mỗi ngày?)

> I talked to my wife, we both agreed to help Tuan. (Tôi có hỏi ý kiến với cô Huyền và 2 vợ chồng đồng ý giúp đỡ em, nhưng thật sự không biết bắt đầu như thế nào đây?)

> So I had to wake up every morning around 5:00 a.m. to have enough time to bring him to LSU. (Mỗi ngày Tuấn phải thức dậy 5 giờ sáng, để cùng đến sở tôi ngồi đợi thì sau đó tôi mới chở em đi học được.)

> Going through a lot of difficult time to find a place for him to live: where can I start God? Where can I find a place for him? Apartment gate is closed, office is closed; Some are available, but you have to find your own roommates. (Việc còn khó hơn nữa là phải tìm một chỗ ở cho Tuấn nữa. Tôi thầm cầu nguyện với Chúa, con sẽ bắt đầu như thế nào. Sau khi chở em đi học tôi ngừng ở các trung cư để hỏi thăm gía cả và coi xem có phòng mướn cho không? Nhiều chỗ cổng còn đóng, văn phòng không mở cửa, mà nếu có đi nữa thí gía quá đắt và mình phải tự tìm thêm cho những người ở chung và phải mua đồ đạc cho riêng mình.)

> I kept on praying and wondered – why is it so difficult Lord? (Tối cứ thầm cầu nguyện và tự hỏi Chúa – sao khó như vậy?)

> I don’t know much about LSU, liked a stranger in a forest of students. (Khó là vì tôi không biết rõ LSU, mình giống như là một người lạ ở giữa rừng người của sinh viên học sinh.)

> Try to find an easiest way for him to live close to his uncle in Lake Charles and attend McNeese is a good college – It is a common sense? (Suy nghĩ đến một đường lối hay là chuyển em về Lake Charles gần người chú của em thì dễ dàng đưa đón hơn, ở đó cũng có trường đại học McNeese cũng có nhiều các bạn sinh viên Việt-nam khác.)

> I called a contact there, but he didn’t reply. (Tôi có ráng liên lạc với một người lãnh đạo tinh thần lo cho các học sinh ngoại quốc ở đó, nhưng ông không trả lời.)

> At the end, I contacted McNeese directly and filled out all the paper and forms required for Tuan to be transferred and even paid the tuition. (Cuối cùng tôi phải liên lạc thẳng với McNeese và làm mọi giấy tờ thủ tục ngay để chuyển Tuấn về, kể cả trả tiền học luôn ngay lúc đó.)

> As soon as we paid the fees and had an acceptance letter from McNeese, LSU changed its mind and said Tuan must attend here for at least one semester. (Ngay sau khi lo xong và có giấy chấp thuận đổi trường, tôi vội vã chạy đến LSU thì trường LSU đổi ý bắt buộc Tuấn phải học ở đây tối thiểu một khoá.)

> Re-work with McNeese to get the money back, and return to the process of hunting a place for him. (Tôi lại phải liên lạc với McNeese làm lại giấy tờ để tiền học được hoàn lại và bắt đầu lại công việc tìm chỗ ở cho em.)

> Through the help of Christian at the Chapel in campus, I found a LSU apartment for Tuan. (Qua sự giúp đỡ của các người cơ đốc ở nhà thờ Chapel trong khu vực trường, tôi tìm được một chỗ ở cho Tuấn ngay trong trường học, vừa rẻ tiền mà lại có đồ đạc giường ghế đầy đủ.)

> I kept thinking to myself – God, why is it so difficult, my plan was not succesful? (Tôi lại thầm thắc mắc với Chúa, tại sao công việc đường lối của con làm không xuông xẻ, dễ dàng; Chúa biết con rất bận còn phải giảng dạy lời Chúa nữa mỗi Chúa Nhật.)

> But God speaking to me in my heart – You are about to preach a sermon about “My thoughts and ways are different and higher then yours, right? So, this is a real lesson for you.” (Nhưng tôi nghe như Chúa nói cùng mình – “Phải con sắp sửa giảng đề tài về đường lối Ta cao hơn của ngươi không?” Như vậy đây là bài học cho con.)

1) It seemed that God is speaking to me – Don’t you see that I love Tuan too; I care about his soul. I want to keep him here so you and VHBC can help him to know Me – because my thoughts and ways are not common as you think. (Thứ nhất, con có biết là Ta cũng yêu thương Tuấn không? Ta muốn giữ em ở đây cho con và Hội Thánh chăm sóc để cho Tuấn biết được tình yêu thương của Ta phản chiếu qua đời sống con và VHBC, vì ý tưởng và đường lối Ta cao hơn của con.)

2) Don’t you see that I love Tuan’s roommate named Ali from Iran too, that you have an opportunity to share a gospel tract with him? Because My ways are higher than yours. (Con có thấy không khi tìm được một người ở chung với Tuấn là anh Ali từ nước Iran, mà con đã có cơ hội chia xẻ một truyền đạo đơn cho anh, vì đường lối của Ta cao hơn đường lối của con.)

3) Don’t you see that I just open your eyes to see a harvest field of reaching out to the LSU students and refresh your vision of 35 years ago that you wanted to reach them. (Con có thấy không khi con đi tìm nhà như vậy thì con thấy lại được “một đồng lúa chín vàng” của những sinh viên cần được nghe đến Tin Lành là điều con mong ước làm được cách đây 35 năm phải không?)

4) Don’t you see that with the experience you have, I prepare you to better serve the next one to come and have opportunity to share my love with more students. (Con có thấy không với kinh nghiệm vợ chồng con có trong những ngày qua sẽ sửa soạn cho con biết cách giúp đỡ những người khác nữa và đem Tin Lành đến cho họ, vì ý tưởng và đường lối của Ta không tầm thường như con nghĩ.)

> I felt that I am liked Job in the old testament, could not say a word for these lessons and understand a little God’s thoughts and the way He acts. (Tôi thấy mình giống giống như ông Giốp ngày xưa, không thể nói ra một câu thắc mắc nào nữa, mà chỉ biết ngậm miệng suy gẫm đến ý tưởng và đường lối của Chúa không như của mình, nhưng cao hơn vì luôn nhắm đến nước thiên đàng, đến linh hồn của mọi người.)

III/ Think Like God

> This understanding is important so that we learn to think like God, and not as common man. (Sự hiểu biết về đường lối của Chúa rất quan trọng để c/ta có sự suy nghĩ như Chúa, chứ không chỉ là những điều tầm thường mà thôi.)

> This understanding is important so that we act liked God, and not our common ways. (Sự hiểu biết về ý tưởng Chúa rất quan trọng để c/ta hành động giống như Chúa, chứ không có theo những con đường nhỏ bé của con người mình.)

> God’s thoughts and ways are so high that make our ways are so small. (Càng nghĩ đến những ý tưởng cao sâu của Chúa, càng làm cho những ý tưởng riêng của mình bị thu nhỏ lại.)

# Have you experienced flying on an air plane looking out the window at night? (Bạn có bao giờ đi trên máy bay ban đêm và nhìn xuống đất không?)

> As the plane takes off, you start seeing houses and cars becoming liked little toys; then as the plane gets up higher and higher, these houses and cars become just small dots. (Ngay từ lúc máy bay cất cánh, bạn bắt đầu thấy những căn nhà, những chiếc xe bị thu nhỏ lại giống như là những món đồ chơi? Và rồi khi máy bay bay cao hơn nữa, những thứ này chỉ còn là những đốm nhỏ dưới đất.)

> The more you think of God’s ways – “flying high,” the more your ways shrink. (Càng bay cao lên gần Chúa thì những ý riêng nhỏ nhoi của mình càng bị thu nhỏ lại.)

 # I remember a beautiful song – “Turn your Eyes upon Jesus” then what happen? “And the things of this earth will grow dim.” (Bài Thánh Ca số 173 có lời nhạc – khi c/ta nhìn xem Vua Giê-su vinh hiển tuyệt vời thì chuyện gì sẽ xảy ra? “Mọi sự trên dương gian tối tăm mờ dần.”)

> We must think higher liked God; so, we do not limit Him and His power with our miniature thoughts and ways. (C/ta phải có ý tưởng cao như đường lối Chúa để c/ta không giới hạn quyền năng của Ngài.)

# I believe that one of the main reasons the today churches are not successful, including VHBC is because we still think and do things our own ways, and not God’s ways, not about His kingdom. (Thiết nghĩ một trong những lý do ngày nay Hội Thánh Chúa, kể cả VHBC chưa tăng trưởng đúng mức là bởi vì c/ta còn hành động theo ý tưởng của con người, công vụ của c/ta chỉ theo ý riêng nhiều quá, mà chưa tìm cầu ý Chúa, nghĩ đến nước thiên đàng của Ngài.)

# I often pray for all church leaders to have “big” visions for God, as God thinks and not as I or the church think. (Tôi rất thường cầu nguyện cho những lãnh đạo Hội Thánh có những khải tượng lớn và khó như Chúa nghĩ, chứ không theo cách suy luận của tôi và của Hội Thánh.)

> I often dream that VHBC one day will no longer be just for the Vietnamese, but an international church for all people – The Khmer, Spanish speaking people, black, Japanese, Laos… (Tôi cũng thường nghĩ đến một ngày VHBC không chỉ còn là một Hội Thánh cho những người Việt-nam mà thôi, nhưng là một Hội Thánh cho nhiều dân tộc khác.)

# We limit God when we just want VHBC to be in a comfortable circle of the Vietnamese people only. (C/ta giới hạn Chúa khi c/ta chỉ muốn Hội Thánh này là cho riêng người Việt, nói tiếng Việt, giữ những truyền thống của người Việt mà thôi.)

> Please don’t misunderstand me; Vietnamese cultures are precious, but Jesus came to this world not just to die for the Americans, for the Vietnamese, but for all sinful men, women, and children. (Xin quí vị đừng hiểu lầm tôi. Phong tục tập quá, ngôn nghữ Việt-nam là điều rất quí gía, nhưng đừng bao giờ quên Chúa Giê-su của c/ta đến thế gian này chết chuộc tội không chỉ cho người Mỹ hay người Việt mà thôi, nhưng cho mỗi người đàn ông, phụ nữ, và trẻ em.)

> This thought may make you feel uncomfortable, because God’s thoughts and ways are higher than ours. (Những điều này có thể làm cho quí vị cảm thấy khó chịu (more works to do), nhưng phải biết ý tưởng và đường lối của Chúa cao hơn của c/ta.)

> This understanding of God’s thoughts and ways will help us to think big for God, to think “outside the box,” and experience that “I (and we) can do all this through Him who gives me and you strength,” as said in Philippians 4:13. (Với sự hiểu biết này, c/ta suy nghĩ đến những đường lối khó và lớn của Chúa, ngoài sức năng của con người, và thật kinh nghiện nghiệm được lời Kinh thánh có chép – “Tôi (và Hội Thánh Chúa) làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho c/ta.”)

> We must have a higher attitude of “can do” with the power of the Holy Spirit. (C/ta phải có một thái độ mới là c/ta có thể “làm được” mọi sự khó và lớn cho Chúa mình, bởi quyền năng của Thánh Linh ban cho.)

> Our God is big, powerful and strong; there is nothing impossible for Him. (Chúa của c/ta là Đấng quyền năng, có gì Ngài không làm được chăng?)

> “Be like Christ” and “think liked Jesus!” and accomplish great things for the Lord to bring His glory at the end. (Hãy trở nên giống như Đấng Christ, có ý tưởng sự suy nghĩ như Chúa Giê-su.)

> God’s thoughts and ways are in Jesus Christ, His Son, when Jesus proclaimed in John 14:6 – “I am the way and the truth and the life. No one comes to the Father except through me.” (Đường lối của Chúa ở trong chính Con Ngài là Cứu Chúa Giê-su, y như chính Ngài đã tự xưng – “Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha.”)

> God’s ways are illustrated in the life of Jesus and His teachings, simply because He is the Way, the truth, and the life. (Đường lối Chúa bày tỏ rõ qua chính đời sống và lời dạy dỗ của Chúa Giê-su, Con Ngài.)

# So, practice “WWJD” (What Would Jesus Do) in everything you do to know God’s will for your life, and the way how you should act, or make all decisions in life. (Tập xử dụng khẩu hiệu “WWJD” nghĩa là trong mọi việc tự hỏi xem Chúa Giê-su sẽ làm gì, hành động hay quyết định như thế nào để c/ta luôn sống trong ý Chúa.)

> We must have a desire liked David – He often asked God to teach him the ways how God acts. (Đavít ngày xưa luôn có tâm tình cầu xin Chúa dạy ông đường lối Ngài, để sống đẹp lòng Chúa.)

# In Psalms 25:4 David said “Show me your ways, Lord, teach me your paths.” (Trong bài thơ Thi Thiên 25:4 – Đavít cầu xin – “Hỡi Đức Giê-hô-va, xin cho tôi biết các đường lối Ngài, và dạy dỗ tôi các nẻo đàng Ngài.”)

# In Psalms 85:11 David said again “Teach me your way, Lord, that I may rely on your faithfulness; give me an undivided heart, that I may fear your name. (Trong Thi Thiên 85:11, Đavít xin Chúa nữa – “Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy chỉ dạy cho tôi biết đường lối Ngài, thì tôi sẽ đi theo sự chân thật của Ngài; Xin khiến tôi một lòng kính sợ danh Ngài.”)

> May His Spirit put in our heart the desire of seeking God’s thougths and doing His ways always. (Nguyện xin Chúa Thánh Linh cũng cảm động mỗi người biết cầu xin Chúa đặt ý tưởng của Ngài trong tấm lòng của c/ta và giúp c/ta luôn hành động theo đường lối Chúa hướng dẫn qua chính lời dạy dỗ của Chúa Giê-su.) Amen!

——————————- Invitation

> Are you with me?

> Let’s all think big for God.

> Don’t let our selfish thoughts to limit God and His power.

> Let do big things for God the ways how God acts.

> Let’s always think about the kingdom of God, and salvation to all men.

> We have the power of the Holy Spirit to “can do” anything?

> Our God is strong, powerful and full of mercies. There is nothing impossible for Him to do through His Spirit in all of us.

# We sing “How Great Thou Art” all the times, but do we really believe it?

> Let’s dream big for the glory of God and for His kingdom comes!

> Let’s turn our eyes upon Jesus and other things on this world will grow dim.

> Let’s work together to build God’s great kingdom until Jesus returns.

 

STUDY BIBLE

bst

Quý đọc giả thân mến,
Mục ” Study Bible Through Grammar” kỳ này chúng ta sẽ nghiên cứu 3 từ ( words):
Test; Try; Examine,
được dùng trong kinh Thánh rất nhiều lần.

Theo từ điện ” Đồng nghĩa- Phản nghĩa Anh-Việt” thì To Try có 3 nghĩa:

1/ attempt : cố gắng.

2/ Test: thử nghiệm; examine: xem xét/ tra xét.

3/ Trouble: gây phiền toái ,thử thách ; afflict.

Chúng ta nghiên cứu câu Kinh thánh có dùng cùng lúc 3 động  từ này:
” TEXT me, Lord, and TRY me, EXAMINE my heart and my mind.” ( 3 động từ này được dùng ở mệnh lệnh cách    (Imparetive Mood )

1/ To TEST: có nghĩa là “thử nghiệm” .(Những bài thi để kiểm tra hay đánh giá trình độ học sinh về một môn học nào đó bằng phương pháp chọn một câu đúng trong những câu có sẳn, ta gọi là bài thi Trắc nghiệm.)
Cũng có thể dùng từ ” tra xét” với ý nghĩa là để biết được khả năng, sự trung thành , ý nghĩ trong lòng hay trong tâm trí .
Danh từ ra từ động từ “Test” là ” Test”
Matt 4:7 ” Jesus answered him . ” It is written ” Do not put The Lord to the test.”
Nếu dùng động từ thì ta có thể viết lại như sau .” do not test the Lord.”
Exodus 17:2 .” Moses replied .”… Why do you put the Lord to the test”.
Để sáng tỏ ý nghĩa của động từ ( verb) ” to try” với ý thử nghiệm ( đôi khi tiếng Việt chúng ta dịch là thử), chúng ta xem các câu kinh thánh với ngữ cảnh của nó. Đây cũng là một trong những nguyên tắc nghiên cứu kinh thánh và quy luật giải kinh.
Exodus 26:4 ” Then the Lord said to Moses, ” I will rain down bread from heaven for you. The people are to go out each day and gather  enough for that day. In this way I will TEST them and see whether they will follow my íntructions.”
Chúa phán rất rõ ràng rằng với cách này Ngài thử nghiệm họ để biêt họ có vâng lời hay không; hay là họ tham lam, lười biếng mà lượm bánh đủ cho nhiều hơn một ngày.
Number 24:12 ” Not one of those who saw my glory and the signs I performed in Egypt and in the wilderness but who disobeyed me and TESTED me ten times.”
Thật dân sự Ngài chậm tin và bất tuân nên họ đã thử nghiệm Ngài đến mười lần .( không có ý thử thách)
Deuteronomy 8:2  ” Remenber how the Lord your God led you all the way in the wilderness these forty years, to humble and TEST you in order to know what was in your heart, whether or not you would keep his commands.”
Câu Kinh thánh này rất rõ là Ngài thử nghiệm để “in order to…” Biết những gì trong lòng họ, họ có giữ các điều răn của Ngài hay không.! ( cũng có thể dùng  dò xét)Trong Kinh thánh Đức-Chúa-Trời cho phép chúng ta thử nghiệm Ngài để :
a/ Biết quyền năng của Ngài.

khi chúng ta tin Ngài là Đấng ” Vô Sở Bất Năng ( Omnipotence) hay là Đấng Toàn Năng ( all- powerful ).
Malachi 3:10 ” Bring the whole tithe into the store house, that there may be food in my house.TEST me in  this” say the Lord almighty. ” and see if I will not throw open the floodgate of heaven and pour out so much blessing that there will not be room enough to store it.”
Lời Chúa cho chúng ta biết rằng chúng ta được thử (nghiệm ) Đức-Chúa-Trời khi nào chúng ta phân biệt được người công bình  cùng kẻ gian ác,giữa những kẻ hầu việc ĐCT và những kẻ không hầu việc Ngài.
” And you again see the distinction between the righteous  and the wicked, between those who serve God and those who do not.” (Malachi 3:18).

b/ Biết được ý muốn của ĐCT là tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn đối với con dân Ngài.
” Do not conform to the pattern of this world, but be transformed by renewing of your mind. Then you will be able to TEST and approve what God’s will is- his good, pleasing and perfect will…” (Romans 12:2)
Trong câu này chúng ta lưu ý  từ ” Then” rồi thì ( co-ordinate conjunction: liên từ tập họp)
Chúng ta sẽ có thể thử nghiệm Chúa và xác nhận ý muốn của Ngài là như thế nào sau khi chúng ta chấm dứt sống theo tiêu chuẩn, mẫu mực của thế gian và biến hoá bởi sự đổi mới của tâm thần mình qua lời của Ngài .
Ngoài ra chúng ta ” Don’t put the Lord to the Test.”2/ TO TEST: có ý nghĩa là thử thách để tôi luyện; thử luyện.
Jeremiah 6:7  ” I have made you a tester of metal and my people the ore, that you may observe and TEST their way.”
Chúa phán với Jeremiah rằng ta sẽ làm cho ngươi thành một người luyện kim loại và dân ta là quặng  kim loại để ngươi có thể quan sát và tôi luyện đường lối của chúng nó .
Một câu KT khác nữa cũng nhờ ngữ cảnh mà ta hiểu được ý nghĩa của lời Ngài muốn bày tỏ cho chúng ta.
I Cor 3: 13 ” It will be revealed with fire, and the fire will TEST the qualify of each person’s work .”
Theo ngữ cảnh ta hiểu từ ” Test” Trong câu là tinh luyện. Lửa sẽ chỉ ra công việc của mỗi người vì lửa sẽ đốt cháy những phần “tạp chất” chỉ còn lại phần phẩm chất tinh ròng thôi.
Chắc chắn chúng ta cũng hiểu được ý nghĩa của câu KT này
Proverb 27:21  ” The crucible for silver and the furnace for gold, but people are tested by their praise.”
Thật là thâm thuý trong ý nghĩa thuộc linh; sự ca ngợi Chúa của  chúng ta cũng tinh luyện được đời sống thiên liêng của chúng ta; sẽ đốt cháy những ô uế trong cuộc đời!

3/ TO TRY : thử thách, thử một điều gì (  sức  chịu đựng…)
Danh từ ra từ động từ này là TRIAL. ( the noun derives from to try) có nghĩa là sự thử thách, cám dỗ, gian  khổ phải chịu dựng.
Isaiah 7:13 ” Then Isaiah said, ” here now, you house of David! Is it not enough to TRY the patience of humans? Will you try the patience of my God also?
Isaiah hỏi nhà David thử thách sự kiên nhẫn của loài người chưa đủ hay sao? Các ngươi cũng sẽ thử sự kiên nhẫn của ĐCT nữa sao?
James 1:12  ” blessed is the one who perseveres under trial because, having stood the test that person will receive the crown of life that the Lord has promised to those who love him.”
Kiên trì Trong  sự gian nan ( affliction) cám dỗ, thì được phước vì đã đứng vững trong cơn thử thách …
( to stand the test : đứng vững trong cơn thử thách; to persevere là loại (intransitive verb) tự đt/ nội đt nên phải có giới từ đi kèm.

 Để rõ thêm ta xem  câu KT này:” For you, God, TESTed us; you refined us like silver” ( Psalm 66:10)     ” See, I have refined you, though not as silver; I have TESTed you in the furnace of affliction “ (Isaiah 48:10) …Ta đã luyện ngươi trong lò hoạn nạn

4/ TO EXAMINE: ( vt : transitive verb: tha động từ/ngoại động )

phải có một ” direct object” mới đủ nghĩa.)
xem xét; dò xét, kiểm tra khám nghiệm.
The noun derives from Examine is Examination. ( test )
Job 7:18  ” that you EXAMINE them every morning and test them every moment.”
Ngài dò xét họ mọi buổi sáng và thử nghiệm họ mọi khi.

Muốn thi hành chức vụ chấp sự Chúa cũng bảo họ ” must be tested”” there is nothing against them” thì hãy để cho họ phục vụ.” They must be TESTed ; and then if there is nothing against them, let them serve as deacons” ( Timothe 3:10) Cầu xin Chúa Thánh Linh soi dẫn để anh chị em hiểu rõ ý muốn của Ngài và dùng tiếng mẹ đẻ của chúng ta diễn tả chính xác. Tuy nhiều bản dịch khác nhau : các bản dịch truyền thống kể cả bản hiệu đính, bản dịch của MS TS Nguyễn Cảnh đều dịch ” phải được thử thách trước”, nhưng bản dịch phổ thông thì dịch sang thể chủ động ( active)  là : “phải trắc nghiệm họ trước ).Như chúng ta đã biết để biết chính xác nghĩa của một từ trong một câu hay một đoạn kinh văn chúng ta phải lưu ý đến ngữ cảnh ( context), mạch văn ( literary style) và tiền văn- hậu văn (Pre-post paragraph/ chapter).Trong câu trên lưu ý các bạn mạch văn có liên từ ” then” ( rồi thì) sẽ làm sáng tỏ vấn đề.Tôi vẫn hằng cầu nguyện cho quý vị theo câu KT Ephesians 1:17  ” I keep asking that the God of our Lord Jesus Christ, the glorious Father, may give you the Spirit of wisdom and revelation, so that you may know him better.”

Amen.

Mục sư Nguyễn Đức Na

Hội Trưởng Giáo Hội Tin Lành Liên  Hiệp  Toàn Cầu- VN .

12 NGÀY SỬA SOẠN ĐÓN GIÁNG SINH

untitled

12 Ngày Sửa Soạn Đón Giáng Sinh

(12 Days of Preparation Before Christmas)

Mathiơ 2:11

“Khi vào đến nhà, thấy con trẻ cùng Ma-ri, mẹ Ngài, thì sấp mình xuống mà thờ lạy Ngài; rồi bày của quí ra, dâng cho Ngài những lễ vật, là vàng, nhũ hương, và một dược.”

(On coming to the house, they saw the child with his mother Mary, and they bowed down and worshiped him. Then they opened their treasures and presented him with gifts of gold, frankincense and myrrh.)

I. Famous Christmas Carol

> Christmas of 2015 is very near to us. (Mùa Giáng Sinh năm 2015 đã gần kề với mỗi người c/ta.)

> The best flavors for Christmas are always about the decorations and Christmas carols that bring so much joy and excitement to our life. (Những nét đẹp nhất của mùa Giáng Sinh luôn là sự trang trí với những cây thông với đủ mọi ánh đèn màu chớp rực rỡ và những khúc nhạc Nôen nghe thật là vui tai.)

# Christmas tree with hundred & thousand sparkling colorful lights and gifts under the tree.

# And Christmas songs just lift up our heart to the time of peace and joy.

# Do you know how many Christmas songs have been composed? An estimate of 914,047 songs. (Có bao nhiêu bài hát Giáng Sinh được sáng tác mà không có mùa lễ nào có nhiều bằng? Thống kê cho biết 914,047 bài.)

> One of the most famous Christmas carols is “The Twelve Days of Christmas.(Một trong những bài hát Nôen vui và nổi tiếng nhất là “12 Ngày mừng Giáng Sinh.”)

# The song published in England in 1780 without music as a rhyme, later became a famous song. (Bài này được sáng tác và phổ biến từ Anh Quốc vào năm 1780, bắt đầu chỉ là một bài văn thơ theo vần, sau này đặt thành ca khúc Nô-en.)

> It is a Christmas carol that enumerates in the manner of a cumulative song, in a series of increasingly grand gifts given on each of the twelve days of Christmas. (Một bài hát theo thể dồn lại, chồng chất lên, mỗi ngày là thêm lên một món quà hay vật gì đó cho 12 ngày của Giáng Sinh.)

1) On the First day of Christmas my true love sent to me – a Partridge in a Pear Tree. (Ngày đầu tiên là món quà tặng một con gà gô đậu trên cây lê.)
2) On the Second day of Christmas my true love sent to me – 2 Turtle Doves, and a Partridge in a Pear Tree. (Ngày thứ hai là 2 con chim bồ câu được cộng vào.)
3) On the Third day of Christmas my true love sent to me – Three French Hens, Two Turtle Doves and a Partridge in a Pear Tree. (Ngày thứ ba là thêm 3 con gà mái.)

> Then the subsequent verses follow the same pattern, each adding one new gift and repeating all the earlier gifts, so that each verse is one line longer than its predecessor: (Cứ như vậy mà mỗi ngày cộng thêm một món nữa bắt đầu từ ngày đầu tiên, cho nên càng hát thì mỗi câu càng dài hơn.)

4) Then the Calling Birds; (4 con chim hót) 5) Gold Rings; (5 cái vòng vàng) 6) Geese a-Laying; (6 con ngỗng đẻ trứng) 7) Swans a-Swimming; (7 con thiên nga bơi) 8) Maids a-Milking; (8 đứa hầu đang vắt sữa bò) 9) Ladies Dancing; (9 người phụ nữ đang nhẩy múa) 10) Lords a-Leaping (10 người đàn ông nhẩy nhót); 11) Pipers Piping (11 người thổi kèn); and finally 12) Drummers Drumming (12 vị đang đánh trống).

> The twelve days in the song are the twelve days, starting with Christmas Day. (12 Ngày bắt đầu từ ngày Giáng Sinh.)

II.  Why Jesus Came?

> Even Christmas is probably the most joyful time of the year, we should never loose the real meaning of it. (Mặc dầu Giáng Sinh là thời điểm vui tươi, hân hỉ nhất trong năm, nhưng c/ta không thể nào quên được ý nghĩa chính của đại lễ này.)

> We should not get so distracted of the minor things such as gifts, footballs, food, shopping, decorations, Christmas tree, Santa Claus… But focus on the real meaning and that is the birth of the Savior Jesus Christ. (C/ta không thể nào bị lo ra với những thứ như là quà cáp, cơ hội xem football, ăn uống, mua sắm, trang trí , chụp hình với Santa Claus, nhưng phải hiểu ý nghĩa thật của Giáng Sinh chính là ngày sinh nhật của Chúa Cứu Thế Giê-su.)

# There is a common phraze that summarizes the focus of Christmas, that is “Jesus is the Reason of the season.” (Có một câu nói tóm tắt đầy ý nghĩa của Giáng Sinh như sau: “Chúa Giê-su là ý nghĩa đích thực cho mùa Giáng Sinh.” Vì nếu Chúa Giê-su không đến và sanh ra thì đâu có Christmas ngày nay?)

> Why Jesus is the reason and why this is a very special holiday that we celebrate? (Tại sao Chúa Giê-su là ý nghĩa chính của mùa đại lễ này mà c/ta ăn mừng?)

# Because this was the time for more than 4,000 years since Adam sinned in the garden, God promised a special gift of peace to the world; and when it was the right time, the Savior Jesus came. (Bởi vì cách hơn 4,000 năm sau khi Ađam phạm tội trong vườn thì từ lúc đó ĐCT đã hứa ban cho một vị cứu tinh, và khi đến đúng lúc thì Cứu Chúa Giê-su đã sanh ra đời.)

1) To understand this gift we need to go back to the Bible, as it illustrates in Matthew 4:16 that the world was living in darkness after Adam sinned, until it has seen a great Light – “the people living in darkness have seen a great light; on those living in the land of the shadow of death a light has dawned.” (Để hiểu món quà quí gía này, c/ta cần trở lại Kinh Thánh trong Mathiơ 4:16 đã minh họa thế giới trông đợi gì trong suốt những năm dài từ lúc tổ phụ loài người phạm tội – “Dân ấy ngồi chỗ tối tăm, đã thấy ánh sáng lớn; Và trên những kẻ ngồi trong miền và dưới bóng sự chết, thì Ánh Sáng đã mọc lên.”)

  1. a) Darkness here is a symbol of the consequence and judgment of sin that is the permanent and eternal death. (Thường bóng tối ám chỉ hậu quả và sự phán xét của tội lỗi chính là sự chết đời đời trong lửa địa ngục.)

# In Matthew 8:12 Jesus once described hell as – “But the subjects of the kingdom will be thrown outside, into the darkness, where there will be weeping and gnashing of teeth.” (Có lần chính Chúa Giê-su dùng “bóng tối” để diễn tả địa ngục là nơi tối tăm ở ngoài thiên đàng, không có sự sáng vinh hiển của ĐCT như sau: “Nhưng các con bổn quốc sẽ bị liệng ra chốn tối tăm ở ngoài, tại đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng.”)

  1. b) The great Light represents the hope when a Savior came to rescue mankind out of the judgement of sins and redeem us back to God. (Còn Ánh Sáng lớn đây chính là niềm hy vọng cho nhân laọi khi Đấng Cứu Chuộc đến giải thoát loài người ra khỏi ách phán xét của tội lỗi và chuộc c/ta lại cho ĐCT.)

# The world is liked a vast crowd of people, shuffing, hustling and pushing around in a huge dark room without finding a way to escape, until the great light turns on and shows the people the door to get out. (Tưởng tượng thế gian giống như một đám đông người đang chen chút, xô đẩy, chen lấn nhau trong một căn phòng tối mịt, ai nấy cố gắng mò mẩm đi tìm một con đường thoát, nhưng chẳng ai tìm được, cho đến khi ánh sáng bật lên và chiếu rọi vào đám đông, chỉ dẫn họ cánh cửa ở đâu để thoát ra khỏi, và cánh cửa duy nhất đó chính là Cứu Chúa Giê-su.)

2) How did this Savior Jesus bring us peace and hope? (Đấng Cứu Thế đã làm gì để ban cho c/ta sự hy vọng?)

> In Romans 3:23 said that our destination is doomed, because “all have sinned and fall short of the glory of God.” (Trong Rôma 3:23 chép rõ định mệnh của mỗi người c/ta là sự diệt vong hư mất, vì mọi người đều đã phạm tội thiếu mất sự vinh hiển của Chúa.)

> There is nothing we can do to turn this curse around. We are hopeless. We are destined to perish. (C/ta không ai làm chi được để tự đổi định mệnh này được. C/ta hết thảy sống trong tuyệt vọng.)

> Until the Savior Jesus came, was born in a manger, and later to die on the cross paying all the debts of our sins. (Cho đến khi Cứu Chúa Giê-su từ trời đến, sanh ra trong máng cỏ, mặc lấy thể xác của loài người, để rồi lớn lên một ngày đã hy sinh chịu chết trên cây thập tự, để trả gía mọi món nợ tội lỗi của tôi và bạn.)

# That was why John the Baptist once introduced Jesus as a Lamb of God in John 1:29, meaning that He became a sin sacrifice for us – “The next day John saw Jesus coming toward him and said, “Look, the Lamb of God, who takes away the sin of the world!” (Đó là lý do tại sao Giăng báptít khi giới thiệu Chúa Cứu Thế Giê-su, ông đã nói: “Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Jêsus đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi.” Chiên Con đây biểu hiệu cho của lễ chuộc tội phải có để trả món nợ tội lỗi của mỗi người c/ta.)

> So that all who believe in Him, their sins are forgiven and they are no longer heading to the lake of fire in eternal darkness, but the kingdom of heaven. (Để cho bất cứ ai bằng lòng tin nhận Ngài thì tội của người đó được xóa sạch, và định mệnh của người đó cũng thay đổi từ đến chỗ địa ngục, nhưng nay trông đợi nước thiên đàng.)

3) Jesus came to die for our sins so that we can be reconciled back to God and inherit His kingdom one day. (Chúa Giê-su đến chết chuộc tội lỗi cho c/ta mà còn làm c/ta được hòa thuận lại với ĐCT, và có đủ điều kiện công bình để hưởng nước thiên đàng một ngày.)

> We used to be God’s enemies and waiting for His wrath, but since Jesus took all God’s wrath for us on the cross, and as we are forgiven, we become His children as John 1:12 said – “Yet to all who did receive him, to those who believed in his name, he gave the right to become children of God.” (Ngày trước c/ta là kẻ thù của ĐCT, chỉ chờ đợi sự thạnh nộ của ĐCT, nhưng bây giờ tội lỗi đã được xóa sạch bởi huyết của Chúa Giê-su đổ ra trên cây thập tự, thì nay c/ta trở nên làm con cái của ĐCT, như trong Giăng 1:12 có chép – “Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài.”)

> All of this is the plan of salvation that God wants to save everyone in the world, and this plan begun at the first Christmas when Jesus Christ was born. (Tất cả đây chính là chương trình cứu chuộc của ĐCT muốn cứu mọi người, và chương trình này bắt đầu từ Giáng Sinh đầu tiên, khi Chúa Cứu Thế Giê-su sanh ra đời.)

III. Prepare our Heart

> Since Christmas is the time we celebrate Jesus’ birthday, we must have a birthday gift for Him. (Vì Giáng Sinh là ngày sinh nhật của Chúa Giê-su, c/ta phải có món quà sinh nhật cho Ngài.)

# When you want to buy a gift for someone, the first thing you always do is to ask what does that person likes. So what does Jesus like? (Mỗi khi mua một món quà cho ai, thường c/ta phải trước hết tự hỏi xem người đó thích cái gì? Như vậy thì Chúa Giê-su thích gì đây?)

# He likes our sincere and cleaned heart because He himself is holy and perfect. (Chúa thích một tấm lòng thánh sạch bởi vì cá tánh của Ngài là thánh khiết.)

> If that is what Jesus wants for His birthday gift then we should prepare our heart to be right with God, offering a gift to Him? (Nếu đó là điều Chúa muốn, vậy thì c/ta mỗi người cần sửa soạn tấm lòng của mình thật xứng đáng, để làm quà dâng cho Chúa trong lễ Giáng Sinh năm nay.)

> If you notice that there are exactly 12 more days before Christmas. (Nếu quí vị để ý thì thấy từ đây cho đến Giáng Sinh là đúng 12 ngày.)

> I am not suggesting that we should learn how to sing the “12 days of Christmas” carol, or buying 12 grand gifts to Jesus, but let’s dedicate the next 12 days to prepare 12 things we can do each day from now until Christmas to prepare our heart as a gift to Jesus. (Tôi không có muốn nói là c/ta hãy tập hát ca khúc “12 Ngày mừng Giáng Sinh,” hay chọn mua cho Chúa 12 món quà, nhưng mỗi ngày trong vòng 12 ngày tới đây, hãy sửa soạn tấm lòng thật thánh sạch để chuẩn bị kỷ niệm ngày Chúa đã Giáng Sinh.)

1) First day (today Sunday – 13th), we must do a throughly self-exam, repent and confess any of our sins to God. (CONFESSING SINS) (Ngày đầu tiên là hôm nay, trước hết c/ta hãy tự xét lấy chính mình, ăn năn và xưng tội với Chúa.)

# 1 John 1:9 reminds us God’s faithfulness – “If we confess our sins, he is faithful and just and will forgive us our sins and purify us from all unrighteousness.” (1 Giăng 1:9 nhắc c/ta về sự thành tín của Chúa –“Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác.”)

> Before confessing sins we must recognize sins as God defines it in His words, confessing sins to God, and repent meaning to turn away from them. (Trước hết c/ta phải nhận tội như Chúa đã định trong lời của Ngài, xưng tội ra và ăn năn nghĩa là nhất quyết từ bỏ những việc ác nghịch cùng Chúa.)

> Not just confessing the sins of commission including the secret sins just between you and God, but don’t forget the sin of omission if we really mean business with Him in this first step. (Xưng tội không phải chỉ những tội mình đã cố ý làm, nhưng còn là những tội vô tình c/ta đang phạm nữa, có khi gọi là tội “tỉnh bơ,” những tội mà Chúa Thánh Linh cáo trách mà mình cứ gỉa bộ như nai tơ.)

> Our relationship between each of us and God has to be right to celebrate a peaceful Christmas. (Mối liên hệ giữa c/ta với Chúa phải được thông suốt thì Giáng Sinh mới có ý nghĩa.)

2) Second day (Monday – 14th), ask God to help you to forgive everyone, mending all relationship with others, because Christmas is about peace of God that can overwhelm us in order to overcome all bitterness. (FORGIVING) (Ngày thứ hai, c/ta cần xét đến mối liên hệ xích mích giữa mình với mọi người khác. C/ta cần nhất tâm tha thứ mọi kẻ phạm nghịch cùng mình, hàn gắn lại cách cư xử tốt đẹp với nhau vì Chúa đã đối xử nhân từ với chính mình.)

# Ephesians 4:32 – “Be kind and compassionate to one another, forgiving each other, just as in Christ God forgave you.” (“Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy.”)

> Say them by names and make a commitment to erase all their debts, meaning that you will never bring their faults/debts back ever. (Xưng tên từng người ra trước mặt ra với Chúa và hứa nguyện xóa bỏ mọi món nợ của người bên kia, hứa sẽ không bao giờ moi móc lỗi lầm của họ ra nữa.)

> Of course, forgiveness can only be completed by 2 parties, those who recognize their faults and ask for forgiveness; at the same time, the others must be ready to forgive. (Đương nhiên mối liên hệ chỉ được hàn gắn lại khi cả 2 bên đều hiệp với nhau, kẻ nhận biết lỗi cần nên xin lỗi, còn người bên kia phải sẵn sàng tha thứ cho.)

> Our relationship with each others must be right to celebrate a joyful Christmas. (Mối liên hệ với nhau phải được giải quyết hàn gắn lại thì c/ta mới huởng một Giáng Sinh vui tươi.)

3) Third day (Tuesday – 15th), spend time to pray for the lost: our friends, relatives, neighbors, the community that many will come to understand the meaning of Christmas and open their heart to receive the gift. (PRAYING FOR THE LOST) (Ngày thứ ba, c/ta để thì giờ ra để cầu nguyện cho bạn bè, người thân, hàng xóm, và cộng đồng đến hiểu ý nghĩa thật của Giáng Sinh mà mở lòng nhận món quà cứu chuộc ban cho sẵn trong Cứu Chúa Giê-su.)

# Romans 10:1 describes the heart of the aspostle Paul wanting so much to see his people to be saved – “Brothers and sisters, my heart’s desire and prayer to God for the Israelites is that they may be saved.” (Trong Rôma 10:1 diễn tả tấm lòng của Phaolô như sau: “Hỡi anh em, sự ước ao trong lòng tôi và lời tôi vì dân Y-sơ-ra-ên cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời, ấy là cho họ được cứu.”)

> We must have the same heart for the Vietnamese community in Baton Rouge? (Đây cũng phải là tấm lòng của c/ta cho người việt ở thành phố Baton Rouge và những vùng phụ cận này?)

> Name the lost people one by one and pray for their soul. (Dâng lên Chúa tên từng người mà cầu xin cho họ.)

4) Fourth day (Wednesday – 16th), prepare to make connections and share the story of Christmas with them. (SHARING THE STORY) (Ngày thứ tư, c/ta đặt kế hoạch để có thể liên hệ, liên lạc với họ mà chia xẻ tin mừng Giáng Sinh.)

# Romans 10:14-15 reminds us how the world is coming to be saved – “How, then, can they call on the one they have not believed in? And how can they believe in the one of whom they have not heard? And how can they hear without someone preaching to them?” (Trong Rôma 10:14-15 nhắc c/ta cần làm gì để họ được cứu? “Nhưng họ chưa tin Ngài thì kêu cầu sao được? Chưa nghe nói về Ngài thì làm thể nào mà tin? Nếu chẳng ai rao giảng, thì nghe làm sao? 15 Lại nếu chẳng ai được sai đi, thì rao giảng thể nào? như có chép rằng: Những bàn chân kẻ rao truyền tin Lành là tốt đẹp biết bao!”)

> Ask God to provide you the opportunites daily to share the story. (Cầu xin Chúa mở đường ban cho mình có cơ hội chia xẻ câu chuyện Giáng Sinh.)

# You can keep couple colorful Christmas tracts to share the good news and invite them to the Christmas service. (Quí vị có thể dùng báo Hướng Đi hay lá thư mời với câu chuyện Giáng Sinh.)

# Invite someone to your home for a dinner? (Quí vị có thể mời khách đến nhà dùng bữa?)

# Use e-mails, facebook – whatever technologies you know and have. (Dùng những phương cách điện tử ngày nay nhắm đến 1-2 người bạn và mời đến dự.)

5) Fifth day (Thursday – 17th), pray for this year special Christmas service, scheduled for Saturday 19th evening staring at 6:30 p.m. (CHRISTMAS SERVICE) (Ngày thứ năm, để thì giờ cầu nguyện cho chương trình truyền giảng Giáng Sinh, xếp đặt vào thứ Bảy lúc 6:30 chiều. Việc truyền giảng là việc Chúa đã làm và trao cho hội thánh làm tiếp cho đến khi Ngài trở lại.)

# Mark 16:15 reminds us of Jesus’ mission and now it is our mission – “Jesus said to them, Go into all the world and preach the gospel to all creation.” (“Chúa Giê-su phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người.”)

> Pray for the special Christmas service on Saturday: Songs& message. (Cầu nguyện cho các bài hát và sứ điệp truyền giảng được bày tỏ rõ ràng.)

> Pray for the special speaker – MS Nguyen v. Hue. (Cầu nguyện cho diễn gỉa.)

> Pray for the decision time. (Cầu nguyện cho thời giờ kêu gọi, nhiều người mở lòng tin.)

6) Sixth day (Friday – 18th), pray for those who serve from planning, hosting, cooking, singing, cleaning, decorating… Everything will bring glory to Jesus. (Ngày thứ sáu, cầu nguyện cho những người lo chương trình, trang trí, nấu nướng, dọn dẹp, tiếp khách… ai nấy hòa hợp mà chung sức làm mọi việc với mục đích đem vinh hiển đến cho Chúa c/ta.)

> Pray that they can be healthy to serve. Pray that God bless their families. (Cầu nguyện cho sức khỏe của mỗi người, xin Chúa ban phước cho mọi gia đình con cái Chúa.)

> Pray for healings so many can come and celebrate Christmas. (Cầu nguyện cho một số anh chị em được lành bịnh để đến dự lễ Giáng Sinh.)

# Ask a practical question – what can I do to get involved? (BE A PART OF THE CELEBRATION) (Hãy tự hỏi coi xem chính mình có thể dự phần chi được trong những công việc sửa soạn này?)

# Galatians 6:2 encourages all of us to do what? “Carry each other’s burdens, and in this way you will fulfill the law of Christ.” (Trong Galati 6:2 nhắc mỗi người nên làm gì? “Hãy mang lấy gánh nặng cho nhau, như vậy anh em sẽ làm trọn luật pháp của Đấng Christ.”)

7) Seventh day (Saturday – 19th), prepare to do follow-up. (FOLLOW-UP) (Ngày thứ bảy, chuẩn bị để chăm sóc những người sẽ đến tin nhận Chúa trong buổi lễ Giáng Sinh.)

> Come to Christmas service with an expectation that some will be saved; and if some are saved what should I do next? (Đến dự lễ với tấm lòng trông đợi Chúa sẽ cứu một số người, và sau đó tự hỏi tôi sẽ làm gì để giúp đỡ những người mới này?)

# Matthew 28:19-20 nhắc đại mạng lệnh – “Therefore go and make disciples of all nations, baptizing them in the name of the Father and of the Son and of the Holy Spirit, 20 and teaching them to obey everything I have commanded you. And surely I am with you always, to the very end of the age.” (Mathiơ 28:19-20 nhắc c/ta đại mạng lệnh của Chúa là gì? “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ, 20 và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.”)

> Rememeber Jesus’ great commission is not just leading them to faith, but nurturing them to become His disciples. (Đại mạnh lệnh của Chúa không chỉ hướng dẫn người ta tin Chúa thôi, nhưng trở nên môn đồ của Ngài nữa.)

> Can I become their “buddy” in the same age group? (Nếu một trong những người sẽ tin hợp với lứa tuổi mình thì tôi có sẵn sàng làm bạn hướng dẫn họ bước đi trong Chúa không?)

> If you are the Sunday School teacher, what should you do to enlist them into Sunday School? Get their address, plan the following up and connected visitations. (Nếu là giáo viên trường Chúa Nhật, c/ta có sẵn sàng tiếp rước, thăm viếng những người mới tin không?)

8) Eight day (Sunday – 20th), prepare a special gift for Jesus. (BIRTHDAY GIFT FOR JESUS) (Ngày thứ tám, sửa soạn một món quà Giáng Sinh cho Chúa.)

> Imitate what the wisemen from the East did as recorded in Matthew 2:11 – “On coming to the house, they saw the child with his mother Mary, and they bowed down and worshiped him. Then they opened their treasures and presented him with gifts of gold, frankincense and myrrh.” (Bắt chước các nhà thông thái từ Đông phương đã mang quà cho Chúa ngày xưa như có chép trong Mathiơ 2:11“Khi vào đến nhà, thấy con trẻ cùng Ma-ri, mẹ Ngài, thì sấp mình xuống mà thờ lạy Ngài; rồi bày của quí ra, dâng cho Ngài những lễ vật, là vàng, nhũ hương, và một dược.”)

> You may ask what gift can I give Jesus? You can support the Lottie Moon offering. (Bạn có thể tự hỏi tôi có thể dâng quà gì? Bạn có thể dâng hiến đặc biệt cho chương trình truyền giáo quốc ngoại Lottie Moon?)

> Pay attention and help a poor family that is in need in the name of Jesus? (Chú ý đến nhu cầu của những người thiêu thốn mà đáp ứng trong danh của Chúa Giê-su?)

# Mrs. Mit needs a king matress.

9) Nineth day (Monday – 21st), pray for a great church revival. (REVIVAL) (Ngày thứ chín, cầu nguyện cho sự phục hưng lớn của hội thánh.)

> Don’t treat Christmas Service is just a “big” event, someone comes to preach, we have a great time to celebrate, to eat and be merry, and everything passes by into emptiness. (Đừng chỉ thấy chương trình Giáng Sinh như là một cơ hội cho c/ta vui mừng lên một chút, thông công vui vẻ, rồi mọi sự trôi qua đi vào trong dĩ vãng.)

> Pray for long lasting impact in your own life and VHBC. Expect a revival coming out of this. (Nhưng cầu nguyện Chúa phục hung hội thánh, mỗi người, mỗi gia đình sau lễ Giáng Sinh này.)

# Psalm 85:6 describes the heart of the author seeking for a revival – “Will you not revive us again, that your people may rejoice in you?” (Trong Thi Thiên 85:6 diễn tả tấm lòng khao khát một sự phục hưng của tác gỉa mà mỗi c/ta cũng khao khát sau Giáng Sinh này – “Chúa há chẳng khứng làm cho chúng tôi sống lại, hầu cho dân Chúa vui vẻ nơi Chúa sao?”)

> Pray for the return to God with a whole heart from each leader to each church member, each family – living with a fear of God. (Cầu xin sự phục hưng trong đời sống của mỗi người lãnh đạo đến mỗi con cái Chúa, hết lòng với Chúa sống trong sự kính sợ Ngài luôn.)

10) Tenth day (Tuesday – 22nd), pray for a church harvest to begin. (HARVEST) (Ngày thứ mười, c/ta cầu xin Chúa giáng xuống một mùa gặt tốt, mà vô số người được cứu nữa trước ngày sau rốt.)

# Mark 4:29 illustrates the harvest that we should desire – “As soon as the grain is ripe, he puts the sickle to it, because the harvest has come.” (Trong Mác 4:29 minh họa một mùa gặt mà mỗi lòng c/ta phải mong ước – “Khi hột đã chín, người ta liền tra lưỡi hái vào, vì mùa gặt đã đến.”)

> Do you expect a church growth in numbers and in faith? Do you expect to have more leaders or are you just satisfied with the church as it is? (C/ta có mong đợi sự tăng trưởng của hội thánh Chúa không, thêm người hầu việc không, hay c/ta đang thỏa mãn, tự mãn với gì mình đang có?)

11) Eleventh day (Wednesday – 23rd), pray for the world peace that can only come from the Savior Jesus because He is the Prince of Peace. (WORLD PEACE) (Ngày thứ mười một, cầu nguyện cho hòa bình thế giới mà chỉ có thể ban cho bởi Chúa hoà bình mà thôi.)

# Isaiah 9:6 reminds us one of the reasons Jesus came to do is to give peace – “For to us a child is born, to us a son is given, and the government will be on his shoulders. And he will be called Wonderful Counselor, Mighty God, Everlasting Father, Prince of Peace.” (Trong Êsai 9:6 nhắc c/ta nhớ Chúa Giê-su đến còn để ban cho c/ta hòa bình với Trời và với nhau, vì Ngài là Chúa Hòa Bình“Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an.”)

> Pray for the world leaders including the president to come to know this Prince of peace and submit totally to Him for the protection from the evil one. (Cầu nguyện cho những lãnh đạo quốc gia thật sự đến biết Chúa Bình An và đầu phục Ngài là Đấng duy nhất có thể bảo vệ đất nước c/ta khỏi những kẻ ác.)

12) Twelve day (Thursday – 24th), pray for the Kingdom of God to come. (COMING KINGDOM OF HEAVEN) (Cuối cùng là ngày thứ mười hai, cầu nguyện cho “nước Cha mau đến.”)

# Matthew 10:7 Christ once commanded – “As you go, proclaim this message: ‘The kingdom of heaven has come near.” (Trong Mathiơ 10:7 có lần Chúa Giê-su trao mạng lệnh về điều c/ta phải trông đợi và rao giảng cho đến khi Chúa trở lại? “Khi đi đường, hãy rao giảng rằng: Nước thiên đàng gần rồi.”)

———————-

> How can we expererience a peaceful, joyful and full of hope in Christmas? (Làm sao c/ta có thể kinh nghiệm một Giáng Sinh đầy sự vui mừng, bình an, và hy vọng đây?)

# By understanding the real meaning of Christmas and prepare our heart for the next 12 days before Christmas. (Khi c/ta suy gẫm và hiểu rõ ý nghĩa thật của Giáng Sinh, và sửa soạn lòng mình trong 12 ngày tới đây, như một món quà dâng lên cho Chúa.)

> Everything about Christmas is the beginning of time when Jesus came to be the Savior, Lord and King of all. (Tất cả mọi điều của Giáng Sinh bắt nguồn từ khi Chúa Giê-su đến để cứu chuộc và làm Vua và Chúa của cả muôn loài.)

> Let’s celebrate Christmas with a greatful heart for all the blessing, especially “for God’s indescribable gift!” (2 Corinthians 9:15) (C/ta hãy sửa soạn đón mừng Giáng Sinh với tấm lòng cảm tạ Chúa cho mọi phước lành của Giáng Sinh, nhất là món quà của sự cứu chuộc trong Chúa Giê-su.)

> Let’s give Jesus the next 12 days until Christmas comes again. (Hãy cùng nhau tận hiến 12 ngày tới sửa soạn kỷ niệm Chúa Giáng Sinh cho năm nay.)

———— Invitation

> Are you ready to celebrate Christmas this year?

# Are all the presents wrapped and placed under the Christmas tree?

# You already prepare to cook special dishes for your family, or watch your favorite football game?

> But have you ever sat back and thought “what is Christmas all about?”

# It’s the celebrate of the birthday of Jesus Christ Who was born more than 2,000 years ago.

> Who is Jesus and why was He born?

# He is God incarnated to save the world from the destruction of sins (hư mất của tội lỗi), by dying on the cross and was raised alive to destroy death.

# Jesus is the only Way, the Truth and the Life for anyone who believes in Him will have the eternal life.

# He is the King of all kings and return one day to rule this world.

> Jesus was born and did all of these for you and me.

> So the most important questions is that “Is Jesus your Savior, Lord and King?”

# If Jesus is not yet your Savior then you are still under the judgment of sins.

# If Jesus is not yet your Lord then you are still under the control of satan.

# If Jesus is not yet you King, then you will not reign in God’s kingdom with Him one day.

> Come and worship Jesus this Christmas, Come and make Him your King, Savior and Lord!

> Come and bring the gift to Him.

> The best of all gifts is yourself, your wills, your desires, your heart and allow Him to rule.

> Then you will experience a Christmas joy that you have never known before.

12 Days of Preparation Before Christmas

Matthew 2:11

“On coming to the house, they saw the child with his mother Mary, and they bowed down and worshiped him. Then they opened their treasures and presented him with gifts of gold, frankincense and myrrh.”

          Christmas of 2015 is very near to us. The best flavors for Christmas are always about the decorations and Christmas carols that bring so much joy and excitement to our life. One of the most famous Christmas carols is “The Twelve Days of Christmas. The song published in England in 1780 without music as a rhyme, later became a famous song. It is a Christmas carol that enumerates in the manner of a cumulative song, in a series of increasingly grand gifts given on each of the twelve days of Christmas. On the First day of Christmas my true love sent to me – a Partridge in a Pear Tree. On the Second day of Christmas my true love sent to me – 2 Turtle Doves, and a Partridge in a Pear Tree. On the Third day of Christmas my true love sent to me – Three French Hens, Two Turtle Doves and a Partridge in a Pear Tree. Then the subsequent verses follow the same pattern, each adding one new gift and repeating all the earlier gifts, so that each verse is one line longer than its predecessor. Then there are 4 Calling Birds; 5 Gold Rings; 6 Geese a-Laying; 7 Swans a-Swimming; 8 Maids a-Milking; 9 Ladies Dancing; 10 Lords a-Leaping; 11 Pipers Piping; and finally 12 Drummers Drumming. The twelve days in the song are the twelve days, starting with Christmas Day.

          Even Christmas is probably the most joyful time of the year; we should never lose the real meaning of it. We should not get so distracted of the minor things such as gifts, footballs, food, shopping, decorations, Christmas tree, Santa Claus… But focus on the real meaning and that is the birth of the Savior Jesus Christ. There is a common phrase that summarizes the focus of Christmas that is “Jesus is the Reason of the season. Why Jesus is the reason and why this is a very special holiday that we celebrate? Because this was the time for more than 4,000 years since Adam sinned in the garden, God promised a special gift of peace to the world; and when it was the right time, the Savior Jesus came. To understand this gift we need to go back to the Bible, as it illustrates in Matthew 4:16 that the world was living in darkness after Adam sinned, until it has seen a great Light.  Darkness here is a symbol of the consequence and judgment of sin that is the permanent and eternal death. The great Light represents the hope when a Savior came to rescue mankind out of the judgement of sins and redeem us back to God. How did this Savior Jesus bring us peace and hope?  First, our destination is doomed, because “all have sinned and fall short of the glory of God.”  There is nothing we can do to turn this curse around. We are hopeless. We are destined to perish, until the Savior Jesus came, was born in a manger, and later to die on the cross paying all the debts of our sins. So that all who believe in Him, their sins are forgiven and they are no longer heading to the lake of fire in eternal darkness, but the kingdom of heaven. Jesus came to die for our sins so that we can be reconciled back to God and inherit His kingdom one day. We used to be God’s enemies and waiting for His wrath, but since Jesus took all God’s wrath for us on the cross, and as we are forgiven, we become His children. All of this is the plan of salvation that God wants to save everyone in the world, and this plan begun at the first Christmas when Jesus Christ was born.

          Since Christmas is the time we celebrate Jesus’ birthday, we must have a birthday gift for Him. So what does Jesus like? He likes our sincere and cleaned heart because He himself is holy and perfect. If that is what Jesus wants for His birthday gift then we should prepare our heart to be right with God, offering a gift to Him? If you notice that there are exactly 12 more days before Christmas. I am not suggesting that we should learn how to sing the “12 days of Christmas” carol, or buying 12 grand gifts to Jesus, but let’s dedicate the next 12 days to prepare 12 things we can do each day from now until Christmas to prepare our heart as a gift to Jesus.

          1) First day (today Sunday – 13th), we must do a thoroughly self-exam, repent and confess any of our sins to God. (CONFESSING SINS) 1 John 1:9 reminds us God’s faithfulness – “If we confess our sins, he is faithful and just and will forgive us our sins and purify us from all unrighteousness.” Before confessing sins we must recognize sins as God defines it in His words, confessing sins to God, and repent meaning to turn away from them. Not just confessing the sins of commission including the secret sins just between you and God, but don’t forget the sin of omission if we really mean business with Him in this first step.

          2) Second day (Monday – 14th), ask God to help you to forgive everyone, mending all relationship with others, because Christmas is about peace of God that can overwhelm us in order to overcome all bitterness. (FORGIVING) Ephesians 4:32 says – “Be kind and compassionate to one another, forgiving each other, just as in Christ God forgave you. Say them by names and make a commitment to erase all their debts, meaning that you will never bring their faults/debts back ever. Of course, forgiveness can only be completed by 2 parties, those who recognize their faults and ask for forgiveness; at the same time, the others must be ready to forgive.

          3) Third day (Tuesday – 15th), spend time to pray for the lost: our friends, relatives, neighbors, and the community that many will come to understand the meaning of Christmas and open their heart to receive the gift. (PRAYING FOR THE LOST) Romans 10:1 describes the heart of the apostle Paul wanting so much to see his people to be saved – “Brothers and sisters, my heart’s desire and prayer to God for the Israelites is that they may be saved.” We must have the same heart for the Vietnamese community in Baton Rouge. Name the lost people one by one and pray for their soul.

          4) Fourth day (Wednesday – 16th), prepare to make connections and share the story of Christmas with them. (SHARING THE STORY) Romans 10:14-15 reminds us how the world is coming to be saved – “How, then, can they call on the one they have not believed in? And how can they believe in the one of whom they have not heard? And how can they hear without someone preaching to them?” Ask God to provide you the opportunities daily to share the story. You can keep couple colorful Christmas tracts to share the good news and invite them to the Christmas service. Invite someone to your home for a dinner? Use e-mails, Facebook – whatever technologies you know and have.

          5) Fifth day (Thursday – 17th), pray for this year special Christmas service, scheduled for Saturday 19th evening staring at 6:30 p.m. (CHRISTMAS SERVICE) Mark 16:15 reminds us of Jesus’ mission and now it is our mission – “Jesus said to them, Go into all the world and preach the gospel to all creation.” Pray for the special Christmas service on Saturday: Songs & message. Pray for the special speaker. Pray for the decision time.

          6) Sixth day (Friday – 18th), pray for those who serve from planning, hosting, cooking, singing, cleaning, decorating… Everything will bring glory to Jesus. Pray that they can be healthy to serve. Pray that God bless their families. Pray for healings so many can come and celebrate Christmas. Ask a practical question – what can I do to get involved? (BE A PART OF THE CELEBRATION) Galatians 6:2 encourages all of us to do what? “Carry each other’s burdens, and in this way you will fulfill the law of Christ.”

          7) Seventh day (Saturday – 19th), prepare to do follow-up. (FOLLOW-UP) Come to Christmas service with an expectation that some will be saved; and if some are saved what should I do next? Matthew 28:19-20 reminds us the great commission as – “Therefore go and make disciples of all nations, baptizing them in the name of the Father and of the Son and of the Holy Spirit, 20 and teaching them to obey everything I have commanded you. And surely I am with you always, to the very end of the age.” Remember that Jesus’ great commission is not just leading them to faith, but nurturing them to become His disciples.

          8) Eight day (Sunday – 20th), prepare a special gift for Jesus. (BIRTHDAY GIFT FOR JESUS) Imitate what the wisemen from the East did as recorded in Matthew 2:11 – “On coming to the house, they saw the child with his mother Mary, and they bowed down and worshiped him. Then they opened their treasures and presented him with gifts of gold, frankincense and myrrh.” You may ask what gift can I give Jesus? You can support the Lottie Moon offering. Pay attention and help a poor family that is in need in the name of Jesus?

          9) Ninth day (Monday – 21st), pray for a great church revival. (REVIVAL) Don’t treat Christmas Service is just a “big” event, someone comes to preach, we have a great time to celebrate, to eat and be merry, and everything passes by into emptiness. Pray for long lasting impact in your own life and VHBC. Expect a revival coming out of this. Psalm 85:6 describes the heart of the author seeking for a revival that we should have also – “Will you not revive us again, that your people may rejoice in you?” Pray for the return to God with a whole heart from each leader to each church member, each family – living with a fear of God.

          10) Tenth day (Tuesday – 22nd), pray for a church harvest to begin. (HARVEST) Mark 4:29 illustrates the harvest that we should desire – “As soon as the grain is ripe, he puts the sickle to it, because the harvest has come.” Do you expect a church growth in numbers and in faith? Do you expect to have more leaders or are you just satisfied with the church as it is?

          11) Eleventh day (Wednesday – 23rd), pray for the world peace that can only come from the Savior Jesus because He is the Prince of Peace. (WORLD PEACE) Isaiah 9:6 reminds us one of the reasons Jesus came to do is to give peace – “For to us a child is born, to us a son is given, and the government will be on his shoulders. And he will be called Wonderful Counselor, Mighty God, Everlasting Father, and Prince of Peace.”  Pray for the world leaders including the president to come to know this Prince of peace and submit totally to Him for the protection from the evil one.

          12) Twelve day (Thursday – 24th), pray for the Kingdom of God to come. (COMING KINGDOM OF HEAVEN) Matthew 10:7 Christ once commanded – “As you go, proclaim this message: ‘The kingdom of heaven has come near.”

          How can we experience a peaceful, joyful and full of hope in Christmas? By understanding the real meaning of Christmas and prepare our heart for the next 12 days before Christmas. Everything about Christmas is the beginning of time when Jesus came to be the Savior, Lord and King of all. Let’s celebrate Christmas with a grateful heart for all the blessing, especially “for God’s indescribable gift!” (2 Corinthians 9:15) Let’s give Jesus the next 12 days until Christmas comes again. Merry Christmas to all!

HƯƠNG THƠM CỦA ĐẤNG CHRIST

untitled

The Pleasing Aroma of Christ

(2 Corinthians 2:15)

“For we are to God the pleasing aroma of Christ among those who are being saved and those who are perishing.”

          All of us like to use perfumes/colognes, because they please our sense of smell. Perfumes can be very expensive and are a big business. In one sense, it can define who you are. In 2 Corinthians 2:15, the apostle Paul mentioned about another kind of perfume – called the pleasing aroma of Christ that was spreading to everywhere through believers/Christians. What exactly is the aroma of Jesus Christ? First, when you think of Christ, what do you know about Him? There are at least three characters of Christ when I think of Him. First, His supreme humility, when Jesus is the Son of the Almighty God but became a man. In John 1:14 verified that Jesus is God but He became flesh to become like us.  Jesus was born and grew up just like any babies, with only one exception that the conception of His birth was by the Holy Spirit, from a virgin. He was thirsty, hungry, and weak, just liked us. But at the same time, His life demonstrated the fullness of God, His omnipotence (all-powerful) through His work of miracles, and His omniscience (all-knowing) by knowing people’s thoughts. There is no greater act of humility than when the Son of God was willing to come down and put on “a human skin,” so that mankind can approach to the Almighty and invisible God. Secondly, His perfect obedience of the Father’s will. Don’t you know that God did not spare any fallen angels as said in 2 Peter 2:4 – “putting them in chains of darkness,” but He decided to save mankind? As a result of His will, there was a “consequence” and that was His Son must come into the world to save us. The Son obeyed the Father to come into the world to save sinners and to redeem them back to the Father, because that is His will. Thirdly, His unconditional love demonstrated amazingly on the cross. Why did Jesus have to die? Because of God’s love and justice. God’s justice requires a sacrifice to pay for the penalty of our sin. That is the pleasing aroma of Jesus Christ: His supreme humility, perfect obedience, and sacrificial love, and all of these can be summarized in one word that is called the “Gospel” of Jesus Christ.

          With the knowledge of His Gospel, how did it transform Paul’s life and ours? 1) It results in a life of victory over the power of sin. How do you know the aroma of Christ is real in you? Jesus’ aroma is real because, there are changes in our life to overcome sins. Sin is no longer a dominion (meaning to control) over us. The new and victorious life overcomes fears, temptations, jealousy, selfishness, drunkenness, all kinds of greed, countless addictions… 2) It results in a life of service to disperse the pleasing aroma of Christ to everyone else. We are the aroma of Christ when our lives spread the smell of service in love by being servants. 3) It results in a life of a sincere witness of spreading the Gospel of Jesus Christ.  Every morning we wake up, we should pray: “Lord Jesus! Bless me with your pleasant aroma, so that the people around me will ask me what’s smell is that, and I will have an opportunity to share with them about your love and your salvation.”

          So, is the pleasing aroma of Christ in you and me? What smell do we spread? Does VHBC smell pleasant or stinky? Check the smell and correct them with the pleasant aroma of Christ. After checking, we all may need a spiritual shower from the Holy Spirit to clean off all the bad odors in our heart. I pray that you smell the pleasant aroma of Christ, His sacrificial love for you on the cross and are willing to open your heart to receive Him today as your Lord and Savior.

 

Lần này chúng ta thay vì nghiên cứu một đoạn kinh thánh, chúng ta nghiên cứu môt bài giảng bằng tiếng Anh trên nền tảng một Câu Kinh thánh ( giảng theo đề tài một câu gốc).
Để giúp các bạn hiểu chính xác nhứng ý tưởng trong bài giảng luận, Mục sư JosephNa có phần ghi chú các từ và các ngữ khó ra sau đây:
– Sense of smell: khứu giác.
– expensive (a): đắc tiền.
– To define: xác định.
– Supreme humility: hạ mình tuyệt đỉnh.
– Exception( n): sự ngoại lệ.
– Conception (n): sự hoài thai.
– To demonstrate: bày tỏ.
– Omnipotence (n): vô sở bất năng= all-powerfull : toàn năng.
– Omniscience(n): vô sở bất tri= all-knowing: Toàn tri,
– ” a human skin” : một con người bằng da, bằng thịt.
– mankind( n) loài người.
– to approach: tiến đến gần.
– In$visible God: ĐCT không thể thấy bằng mắt.
– perfect obedience: Sự vâng phục trọn vẹn.
– Fallen angels: thiên sứ sa ngã.
– Unconditional love (n) tình yêu vô diều kiện.
– amazingly (adv) một cách ngạc nhiên.
– Justice (n): sự công chính.
– Sucrifice (n): sinh tế.
– Penalty(n): hình phạt.
– Pleasing aroma (n) mùi thơm đẹp lòng.
– sacrificial love (n): tình yêu hiến dâng.
– To summarize: tóm tắc.
– In one word ( idiom) :tóm lại một lời.
– Transform: biến hoá.
– To disperse: rải rắc.
– stinky (a): hôi thúi.
– Odor (n): mùi.
Dịch có nhiều cách, hy vọng quý bạn đọc hiểu nhanh bài giảng luận và thích thú với bài dịch của riêng mình.
Có kèm theo các câu hỏi và lời mời cũng như bài dịch phía dưới  của Muc sư Nguyên Trọng Vinh để tham khảo.
-Ban Biên Tập-

Hương Thơm của Đấng Christ

The Pleasing Aroma of Christ

(2 Côrinhtô 2:14-17)

“Song tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài làm cho chúng tôi được thắng trong Đấng Christ luôn luôn, và bởi chúng tôi, Ngài rải mùi thơm về sự nhận biết Ngài khắp chốn! 15 Vì chúng tôi ở trước mặt Đức Chúa Trời là mùi thơm của Đấng Christ, ở giữa kẻ được cứu, và ở giữa kẻ bị hư mất; 16 cho kẻ nầy, mùi của sự chết làm cho chết; cho kẻ kia, mùi của sự sống làm cho sống. Ai xứng đáng cho những sự nầy? 17 Vả, chúng tôi chẳng giả mạo lời của Đức Chúa Trời như nhiều kẻ khác; nhưng chúng tôi lấy lòng chân thật, theo như đạo từ Đức Chúa Trời đến thể nào, thì giảng ra thể ấy trước mặt Đức Chúa Trời, trong Đấng Christ.”

I/ Expensive Perfumes

>Tôi biết chắc rằng trong c/ta ai cũng thích xử dụng, xức nước thơm, chứ chẳng một ai muốn được ngửi những mùi hôi, phải không?

>Nói về tất cả những loại nước thơm bán trong các cửa tiệm thì c/ta không thể đếm hết được.

# Một tài liệu cho biết những nhà chế nước hoa họ tìm tòi khám phá ra những mùi thơm từ nhiều loại cây cỏ, hoa lá và gỗ, mà tạo nên trên 3,000 chất, để chế biến ra những loại nước thơm khác nhau. Ai cũng biết nước thơm rất là đắt tiền, chẳng hạn như một lọ Channel số 5 dưới 8 ounces có gía gần đến 100 đôla. Ngành thương mại bán nước thơm theo thống kê trong năm 2013 trên toàn thế giới ước lượng có thể đến hơn 30 tỉ đôla.

# Mỗi ngày lễ Valentine là tôi tốn nhiều tiền mua những loại nước thơm mới cho vợ mình; nhưng kể ra cũng còn rẻ hơn là mua hột xoàn kim cương?

>Hương thơm của nước hoa thu hút người ta và cũng thường bày tỏ cho mọi người biết về sự sang trọng, đẹp đẽ bên trong của một người; Trong một ý nghĩa tổng quát, mùi thơm nào bạn dùng, hình như định cho những người khác biết được bạn là loại người sang trọng đến mức nào chăng?

II/ The Aroma of Jesus Christ

>Trong 2 Côrinhtô 2:15 – sứ đồ Phaolô nói đến một loại hương thơm khác, đó là hương thơm của Đấng Christ, đang tỏa ra qua đời sống của những kẻ tin.

>Bối cảnh của đoạn Kinh Thánh này là khi nào?

# Khi Phaolô trên đường từ thành Trôách để gặp Tít cho biết về tình hình của hội thánh Côrinhtô.

>Nhưng không gặp và làm cho Phaolô lo lắng, lý do là vì Tít đem những lá thư của Phaolô đến với Hội thánh Côrinhtô với những lời quở trách nặng nề, thì không biết họ sẽ phản ứng ra sao?

>Nhưng khi đến Philíp thì Phaolô gặp được Tít và cho biết một số những nan đề của hội thánh Côrinhtô đã được điều chỉnh.

>Điều này làm cho Phaolô vui mừng và phát xuất ra lời chứng về hương thơm của Đấng Christ.

>Như vậy hương thơm của Đấng Christ ở đây là gì? Có ảnh hưởng gì cho những người đã ngửi được hương thơm đó?

>Để giải thích rõ, trước tiên tôi muốn hỏi quí vị câu hỏi, khi quí vị nghĩ đến Chúa Giê-su, thì quí vị biết gì về Ngài?

>Tối thiểu có 3 điều tuyệt đẹp (hay gọi là hương thơm) khi tôi suy nghĩ đến Chúa Giê-su.

1) Thứ nhất, tấm gương hạ mình tuyệt đỉnh của Chúa khi Ngài chính là Con của ĐCT, nhưng lại bằng lòng trở nên làm “con người,” như mỗi c/ta, đi vào thế giới của loài người.

# Trong Côlôse 1:19 định rõ trong Chúa Giê-su hoàn toàn là ĐCT – “Vì chưng Đức Chúa Trời đã vui lòng khiến mọi sự đầy dẫy của Mình chứa trong Ngài.”

# Cũng trong Côlôse 1:15-16 cùng đọan có chép chính Ngài là Đấng Tạo Hóa Chí cao mà không một chủ giáo nào đã dám xưng – “Ấy chính Ngài là hình ảnh của Đức Chúa Trời không thấy được, là Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên. 16 Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài, bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh, hoặc cầm quyền, đều là bởi Ngài và vì Ngài mà được dựng nên cả.”

# Trong Giăng 1:14 nhắc lại sự kiện lạ lùng khi Đấng Tạo Hóa đã hạ mình trở nên xác thịt – “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha.”

# C/ta sắp sửa lại kỷ niệm lễ Chúa Giáng Sinh, và không một ai có thể từ chối về sự sanh ra đời của Chúa Cứu Thế.

>Ngài sanh ra và lớn lên như mọi đứa bé đã sanh ra đời, ngoại trừ chỉ khác có một điểm đó là bầu thai cô trinh nữ Mari mang thai Ngài là việc làm của Thánh Linh ĐCT, chứ không bởi sự phối hợp của một người nam và nữ, để chứng tỏ Chúa không máng tội Ađam & Êva.

>Kinh Thánh chép Chúa Giê-su lớn lên như một người thường.

# Trong Giăng 19:28 chép Chúa biết khát, trong Mathiơ 4:2 chép Chúa biết đói, trong Luca 23:26 chép Chúa mệt mỏi kiệt sức khi cố gắng vác thập tự gía lên đồi Gôgôtha, chứ Ngài không phải là “superman.”

>Mặc dầu vậy c/ta cũng đừng quên trong Ngài bày tỏ trọn vẹn Thần tánh của ĐCT qua quyền năng làm được những phép lạ, tối thiểu 34 phép lạ được ghi chép xuống trong Kinh Thánh trong 4 khiá cạnh: Chữa mọi bệnh tật, đuổi mọi thứ quỉ ám, Chủ quyền trên thiên nhiên vì Ngài là Đấng Tạo Hóa, và làm người chết sống lại.

>Không có một hành động khiêm nhường tuyệt đỉnh nào có thể so sánh cho bằng khi Con Trời vinh hiển và đầy quyền năng đã chịu giáng thế mặc lấy “da thịt” loài người và trở nên một ngưởi như mỗi c/ta hết thảy.

2) Điều thứ hai về Chúa Giê-su là sự vâng lời tuyệt đỉnh của Ngài làm trọn theo ý muốn của ĐCT, chứ không làm và nói theo ý riêng Mình.

>Quí vị có lẽ thắc mắc – Ý muốn của ĐCT là gì?

# Trong 2 Phiêrơ 3:9 chép rõ ý muốn của Chúa như sau: “Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn.”

# Nên nhớ là đối với thế giới thần linh, trong 2 Phiêrơ 2:4 có chép Chúa không có hứa sẽ cứu những thiên sứ ác, nhưng sẽ “quăng (c/nó) vào trong vực sâu, tại đó họ bị trói buộc bằng xiềng nơi tối tăm để chờ sự phán xét,” nhưng Ngài đã tự chọn cứu loài người, không muốn một ai trong c/ta bị hư mất.

>Hậu quả ĐCT phải chịu khi muốn cứu loài người, đó là Con một của Chúa phải đến thế gian để cứu rỗi nhân laọi.

>Chúa Giê-su khi đến thế gian thì không làm theo ý riêng của mình, nhưng vâng lời Đức Chúa Cha trọn vẹn, để cứu vớt loài người được trở lại với Cha Thiên Thượng.

>Chúa Giê-su vâng phục Đức Chúa Cha trọn vẹn trong tất cả những lời Ngài nói, việc Ngài làm, và kể cả làm đúng theo thời điểm Chúa Cha muốn.

# Trong Giăng 6:38, Chính Chúa Giê-su đã tuyên bố rõ mụch đích Ngài đến thế gian là để làm gì? “Vì Ta từ trên trời xuống, chẳng phải để làm theo ý Ta, nhưng làm theo ý Đấng đã sai Ta đến.”

>Vì lý do đó mà Phaolô khi viết thư cho hội thánh Philíp trong 2:5-8 đã khuyên con cái Chúa mỗi người phải có một tâm tình vâng phục trọn vẹn giống như Chúa vậy – “Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, 6 Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7 chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.”

3) Điều thứ ba, tình yêu thương tuyệt đỉnh của Chúa Giê-su bày tỏ qua sự hy sinh chết trên cây thập tự.

>Tại sao Chúa Giê-su phải bị chết? Vì tình yêu thương vĩ đại và sự công bình của ĐCT.

>Sự công bình của ĐCT đòi hỏi phải có của tế lễ để chuộc tội.

>Của lễ chuộc tội xứng đáng chính là huyết của Con Ngài phải bị đổ ra, để trả gía cho sự sống của mỗi c/ta; Huyết của Chúa không chỉ trả gía cho tội lỗi c/ta mà thôi nhưng còn thỏa mãn trọn vẹn mọi sự công bình mà luật pháp của ĐCT đòi hỏi.

>Thập tự gía là sự trừng phạt dã man, đau đớn nhất mà Chúa Giê-su đã phải chịu.

>Trên thập tự, Chúa không chỉ chịu sự đau đớn phần thể xác mà thôi, nhưng còn là mang trên mình sự xấu hổ của mọi tội lỗi c/ta nữa.

>Trên thập tự gía, Ngài lãnh mọi sự rủa sả của c/ta như có chép trong Galati 3:13 – “Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta, vì có lời chép: Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ.”

>Chính Ngài đã lãnh sự thạnh nộ của ĐCT vì tội lỗi c/ta trên cây thập tự, đến nỗi trong giây phút đó, Chúa Cha đã phải lìa xa chính Con Ngài; Tất cả là bởi vì Chúa yêu thương nhân loại.

>Hương thơm của Đấng Christ ấy là 1) tấm gương hạ mình tuyệt vời, 2) sự vâng phục ĐCT tuyện đỉnh và 3) tình yêu thương vĩ đại của Chúa đã hy sinh chính Mình cho tội nhân, mà có thể tóm tắt bằng hai chữ trong tiếng Việt mà thôi, đó là “Phúc Âm, hay Tin Lành.”

III. Spreading the Aroma of Christ

>Với sự hiểu biết đó về hương thơm của Đấng Christ trong mỗi lòng, điều này đã thay đổi chi cho chính đời sống của Phaolô và mỗi c/ta?

1) Trong c. 14, kết quả trong đời sống Phaolô là sự được thắng khỏi quyền lực của tội lỗi, vượt khỏi mọi sự khó khăn.

>Làm sao c/ta “ngửi” được hương thơm của Đấng Christ ở trong c/ta? Chứng cớ ở đâu?

# Hương thơm thứ nhất chứng tỏ qua sự thay đổi của những thói hư tật xấu thành những đức hạnh vì c/ta đã được cứu, và được biến hóa thành những tạo vật mới.

>Trong c/ta chưa có ai hoàn toàn hết vì còn mang bản tánh xác thịt, nhưng c/ta cứ phải thay đổi thánh hóa mỗi ngày càng trở nên giống Con ĐCT hơn.

>Quí vị có bao giờ tự ngắm xem mình trong gương và thấy có những thay đổi chi không?

# Quí vị một số đã tin Chúa lâu rồi, nhưng lối sống, thói quen, cách cư xử, tư tưởng, sự suy luận, lời nói, sự ước ao của mình đang thay đổi như thế nào? Có “smell better” hơn mỗi ngày không?

>Tại sao? Cũng vì c/ta càng có sự hiểu biết của Đấng Christ qua lời của Ngài thêm mỗi ngày.

>C/ta càng để thì giờ học Kinh Thánh và cầu nguyện, cùng thực hành làm theo, thì đức tin c/ta càng lớn mạnh, và kết quả là c/ta càng chiến thắng quyền lực của tội lỗi và sự cám dỗ.

>Vì lý do đó mà sứ đồ Giăng chép trong 1 Giăng 5:4 – “vì hễ sự gì sanh bởi Đức Chúa Trời, thì thắng hơn thế gian; và sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta.”

>C/ta không còn sống nô lệ cho tội lỗi nữa, nhưng thật sự kinh nghiệm sự tự do trong Đấng Christ, và lực của sự cám dỗ không còn điều khiển chi c/ta được nữa.

>Cuộc sống mới được thắng nhiều sự sợ hãi, cám dỗ, ganh tị, ích kỷ, say sưa, tham lam, phách lối, ngạo mạn, tranh chấp, cãi cọ, những sự nghiện ngập… và nhiều điều khác nữa, nhưng thế vào đó những trái của Thánh Linh đó là “lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, và tiết độ.”

2) Điều thứ hai, sự hiểu biết Chúa Giê-su là kết quả của một đời sống tỏa ra hương thơm của Chúa đến với mọi người xung quanh, qua sự khiêm nhường, vâng phục Chúa, và yêu thương nhau.

>Và sự tỏa hương thơm của Chúa Giê-su hữu hiệu nhất không phải qua những lời hay ý đẹp mình nói, nhưng là những việc thực tế mình làm, như Chúa Giê-su đã làm trên thập tự gía.

# Khi mình giúp đỡ một người ACE thực tế, chứ không chỉ nói với họ: “Tôi cầu nguyện cho anh, hãy đi cho bình an.”

# Khi đối xử nhơn từ với chính người vợ hoặc chồng mình, vì họ cũng yếu đuối như mình.

# Khi nấu ăn cho trẻ em hay ban thanh thiếu niên ăn mỗi lần có sinh hoạt.

# Khi hy sinh thì giờ giúp đỡ các công việc hội thánh, chứ không có nói: “Hãy gọi ông mục sư đi.”

# Khi bằng lòng bước ra lấy ân tứ dạy dỗ trẻ em lời của Chúa là việc rất ít người muốn làm.

# Khi bằng lòng tha thứ những kẻ phạm nghịch cùng mình, như Chúa đã tha thứ chính mình vậy.

3) Kết quả của sự hiểu biết Chúa dẫn c/ta đến một đời sống chứng đạo chân thật, không có gỉa mạo bề ngoài.

>v. 15 – Đời sống c/ta phải là hương thơm của Đấng Christ tạo cơ hội tốt cho nhiều người tìm biết đến Ngài, ở khắp những nơi c/ta đi.

>Bạn có thích không khi dùng một loại nước thơm mới và thu hút những người xung quanh muốn biết loại nước thơm đó là gì?

>Không một ai xức nước thơm rồi mặc áo che đậy lại, nhưng muốn tỏa ra mùi thơm đó làm mát lòng, làm thơm lỗ mũi của những người xung quanh.

# Câu chuyện về một tân tín hữu mới tin Chúa, vài ngày sau vị Mục Sư gặp lại hỏi thăm coi anh có thấy khó khăn chi trong sở làm không là chỗ nghe có nhiều người không thích tín đồ cơ đốc? Anh trả lời: “Mục sư à! Tôi đâu có dại chi mà cho họ biết mình đã mới tin Chúa là con cái Chúa đâu, để gặp khó khăn.”

# C/ta không thể nào sống với thái độ đó được, nhưng mỗi buổi sáng thức dậy nên cầu nguyện: “Chúa Giê-su ơi! Xin Ngài xức hương thơm của Chúa ở trên con ngày hôm nay, để những người xung quanh ngửi được và hỏi con, hầu cho con có cơ hội chia xẻ tình yêu thương và Tin Lành của Chúa cho họ.”

>Quí vị có biết là nhiều người không có đọc Kinh Thánh, nhưng họ đọc qua đời sống của mỗi c/ta không, qua hội thánh của Ngài không, cách ăn nết ở, cách sống khiêm nhường, cách c/ta yêu thương và chăm sóc nhau như thế nào, để họ biết đến Chúa Giê-su của c/ta.

4) Vậy thì mỗi người tự hỏi xem hương thơm của Đấng Christ có đang ở trong “tôi” không?

>Những người xung quanh có thấy nét nhân từ, thái độ yêu thương, rộng lượng và sự kính trọng của mình đối với nhau không?

>Những hương thơm này có thu hút thế giới xung quanh đến biết Chúa Giê-su không?

>Quí vị tỏa mùi gì? Có phải là hương thơm của Đấng Christ hay là mùi hôi chịu không nổi?

# Câu chuyện về một anh ăn trộm rất khéo không bao giờ để sót lại một dấu vết nào hết mà không ai kết án được. Nhưng có một ngày có người đã sát định được rõ ra anh là thủ phạm, vì anh có một mùi hôi đặc biệt đã để lại đằng sau.

>C/ta có đang sống giống như hội thánh Côrinhtô ngày xưa không mà có biết bao nhiêu điều xấu xa, bê bối đã làm xấu hổ danh Chúa Giê-su. Thiết nghĩ, có lúc Chúa nhìn vào hội thánh tân thời ngày nay và nói “hôi quá,” đến nỗi làm Ngài buồn nôn nữa.

>Không phải điều này chính là lời Chúa Giê-su đã phán cùng hội thánh cuối cùng Laođicê trong Khải Huyền 3:15-16 như sau sao? “Ta biết công việc của ngươi; ngươi không lạnh cũng không nóng. Ước gì ngươi lạnh hoặc nóng thì hay! 16 Vậy, vì ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng ta.”

>Nếu Chúa Giê-su đến viếng HTNO hay HTBR ngày hôm nay thì Ngài có thỏa lòng hay bị đau bụng đây mà phải nhả c/ta ra?

# Nó sẽ tùy thuộc vào nếp sống hầu việc của mỗi c/ta trong tình yêu thương, cách c/ta cư xử với nhau, mà mỗi hội viên phải tự xét lấy.

>Có bao giờ quí vị tự hỏi, tôi có hương thơm gì không?

>Quí vị có bao giờ thử check với những người khác, có thể người ngồi bên cạnh coi xem họ có ngửi được mùi gì của mình không?

# Quí vị có thể ngửi thơm trong sáng Chúa Nhật trong nhà thờ, nhưng khi ra khỏi nhà thờ thì sao?

>Nếp sống của c/ta có thật thà không, hay chỉ là bề ngoài biểu diễn lời hay ý đẹp của mình nói ra mà thôi?

>C/ta có tỏa hương thơm trong nhà thờ, nhưng khi về với gia đình mỗi ngày, hương đó có còn nữa không? Vợ chồng đối xử với nhau như thế nào?

# Các bạn trẻ, các bạn ngoan ngoãn trong nhà thờ, nhưng khi về đến nhà thì sao? Có vâng lời cha mẹ không? Có làm trọn trách nhiệm của mình không? Hay là chỉ dán mắt vào máy điện toán, hay những trò chơi điện tử? Các bạn có tỏa hương thơm ở nhà mình không?

>Hãy tự xét và cần điều chỉnh để luôn tỏa hương thơm của Đấng Christ khắp nơi c/ta đi và sống.

5) C/ta có thể tự xét bắng cách cầu xin Chúa tắm rửa đời sống thuộc linh của mình sạch khỏi những mùi hôi đi?

# Ai cũng biết nếu mình không tắm vài bữa, người ta bắt đầu tránh xa c/ta, c/ta đi qua vườn hoa bị héo, những con súc vất đánh mùi c/ta từ đằng xa thì bỏ chạy.

>Tôi không có nói về sự tắm rửa thuộc thể, nhưng là sự tắm rửa thuộc linh khỏi những tánh xấu xa của con người cũ.

>C/ta tắm rửa thuộc linh bằng cách để thì giờ trong sự cầu nguyện tự xét và làm hai điều này:

  1. a) Thứ nhất, hãy tra xét, và ăn năn tội mà bỏ khỏi mình những mùi hôi.

>Sự tra xét chính mình là điều rất khó làm, vì thật ra không ai thích “bị vạch tội ra.”

# Thử hỏi có bao nhiêu người đang ngồi đây, trước khi vào nhà thờ để thờ phượng Chúa sáng nay, đã có thì giờ tự xét lấy chính những tội của mình trong tuần lễ qua: những tư tưởng ác, lời nói xấu, và hành động không thánh sạch, những xích mích mà đã xưng tội với Chúa chưa?

>Nhớ rằng chính Chúa Giê-su dạy gì trong Mathiơ 5:23-24 – “Ấy vậy, nếu khi nào ngươi đem dâng của lễ nơi bàn thờ, mà nhớ lại anh em có điều gì nghịch cùng mình, 24 thì hãy để của lễ trước bàn thờ, trở về giảng hòa với anh em trước đã; rồi hãy đến dâng của lễ.”

# Biết bao nhiêu lần c/ta đến nhóm dâng của lễ, hội thánh lấy, nhưng Chúa không nhận và mình về không được phước là vì chưa dâng của lễ đúng cách?

>Việc tra xét chính mình rất khó… là bởi vì việc xét đoán những người khác thì dễ làm hơn, vì tội của họ thì ngay trước mắt mình, nhưng còn tội của mình thì ở tuốt trong lòng mình, nên rất khó thấy… gìống như là người trong ẩn dụ của Chúa Giê-su có chép ở trong Mathiơ 7:1-5, chỉ thấy cái rác trong mắt người khác, nhưng lại không thấy có cây đà trong chính mắt mình sao?

>Mỗi lần trước khi bước vào nhóm, mỗi người phải có thái độ giống như vua Đavít ngày xưa đã kêu cầu ĐCT điều gì trong Thi Thiên 139:23-24 – “Đức Chúa Trời ơi, xin hãy tra xét tôi, và biết lòng tôi; Hãy thử thách tôi, và biết tư tưởng tôi; Xin xem thử tôi có lối ác nào chăng, Xin dắt tôi vào con đường đời đời.”

  1. b) Khi tự tra xét sẽ thấy được chính con người thật của mình chăng?

# Tôi thích câu chuyện vê một người đàn ông cận thị đi xem triển lãm tranh. Ông có tánh hay chê trách mọi người, lúc nào cũng tìm được mọi lý do để phê bình người khác. Một ngày kia ông và vợ đi vào một chỗ xem triển lãm những bức tranh ảnh nổi tiếng. Khi mới bước vào, ông đứng ngay trước cửa thì đã lên tiếng chê trách: “Tranh gì mà xấu hoắc thế này. Người không ra người, mà vật cũng không ra vật”… ông lại càng nói lớn lên để cho mọi người xung quanh nghe được tiếng phê bình của mình. Ngay lập tức người vợ chạy đến, kéo ông chống đi khỏi đó và noí: “Anh nói gì vậy! Anh đang đứng trước một tấm gương soi mặt chứ đâu phải bức tranh nào đâu!” Hóa ra ông chồng quá cận thị… đang tự xét đoán chính mình vì mắt kém mà không biết!”

>Nhiều khi bởi tự “soi mặt mình trong gương” mà giải quyết được biết bao nhiêu là những xích mích chăng, vì tự thấy chính mình là “tín hữu mà thật chẳng giống tín hữu chút nào?”

>Vì thế lời Kinh Thánh mới dạy trong 1 Côr. 11:31 – “Nếu chúng ta biết xét đoán lấy mình, thì khỏi bị xét đoán.” Và chắc chắn c/ta sẽ chẳng còn xét đóan những người khác nữa, nhưng sẽ thông cảm họ chăng?

  1. c) Đừng tự xét theo sự so sánh mình với những người khác thì lúc nào cũng thấy mình tốt hết.

# Câu chuyện 2 anh em kia rất giàu có, dâng hiến nhiều tiền trong một H/T, nhưng là do những việc làm gian lận, trốn thuế. Và vì dâng tiền nhiều lắm cho nên mọi người không ai dám nói công khai bẻ trách họ. Một ngày kia người anh qua đời, người em xin vị Mục Sư làm lễ tang cho anh mình và nói xin mục sư trong lễ tang hãy nói cho mọi người biết anh mình là một người rộng lượng, dâng hiến giúp đỡ rất nhiều người, và sau đó người em hứa có một món quà cho mục sư. Trong buổi lễ, vị Mục sư mở đầu câu nói: “Hôm nay c/ta cùng đến đây để tiễn đưa một người gian ác, tham lam, dối trá… nhưng nếu so sánh với người em của ông, ông vẫn là người tốt lành hơn!”

>Tôi có thể so sánh với những kẻ giết người, tham nhũng, cướp của, thì tôi vẫn tự mình thấy tốt hơn, nhưng nếu so sánh với Kinh Thánh là lời và tiêu chuẩn của Chúa thì thật tôi là một kẻ tội nhân đáng chết mà thôi!

  1. d) Nhưng khi tra xét thì dùng chính lời Chúa để tự xét chính mình, xem xét tội như Chúa xét.

>Kinh Thánh cũng cho c/ta biết lời Chúa chính là “tấm gương” soi mặt để c/ta khi nhìn vào, tra xét, thì thấy được chính lỗi lầm của mình, cùng những điều cần sửa đổi.

# Giacơ 1:22-24 – “Hãy làm theo lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình. Vì, nếu có kẻ nghe lời mà không làm theo thì khác nào người kia soi mặt mình trong gương, thấy rồi thì đi, liền quên mặt ra thể nào.”

>C/ta không thể nào đọc hoặc nghe lời Chúa theo kiểu đắp lên đó một lớp đường ngọt, để rồi tự không thấy chính những lỗi lầm của mình mà cần ăn năn sửa đổi; C/ta phải canh chừng thái độ tự xét theo lối so sánh mình với những người xung quanh mình, thay vì theo lời lẽ thật của Chúa.

>Vài thí dụ về tiêu chuẩn của Chúa, nhiều khi khác với sự suy nghĩ của c/ta.

  1. i) Trong Mathiơ 5:28 Chúa Giê-su dậy gì về tội tà dâm liên hệ đến điều răn thứ 7 của ĐCT? “Song ta phán cho các ngươi biết: Hễ ai ngó đàn bà mà động tình tham muốn, thì trong lòng đã phạm tội tà dâm cùng người rồi.”

>Tiêu chuẩn của Chúa ở đây đó là không phải chỉ khi nào c/ta phát xuất ra hành động mới là tội, nhưng nếu ý tưởng xấu xa đã nằm trong óc của mình thì cũng là phạm tội rồi.

# Một số thường lấy lý do tôi xem những hình ảnh ô dâm trong Internet có gì sai đâu? Tôi đâu có làm hại ai đâu, có một mình tôi với cái máy thôi mà, nhưng đối với lời Chúa là tội tà dâm.

  1. ii) Một chỗ khác trong Mathiơ 5:22 Chúa Giê-su dậy gì về tội giết người liên hệ đến ĐR thứ 6 của ĐCT – “Song ta phán cho các ngươi: Hễ ai giận anh em mình thì đáng bị tòa án xử đoán; ai mắng anh em mình rằng: Ra-ca, thì đáng bị tòa công luận xử đoán; ai mắng anh em mình là đồ điên, thì đáng bị lửa địa ngục hành phạt.”

>Đâu phải mình cầm dao chém anh chị em mình mới là phạm tội giết người, nhưng khi c/ta giận và dùng lời nói đoán xét, rủa xả, mắng anh chị em mình là đồ điên, thì cũng như phạm tội giết người rồi.

>Nghe đến đây tôi thật thấy sợ, vì biết bao nhiêu lần mình phạm những tội này mà không biết, vì mình chỉ dựa theo sự suy nghĩ riêng của mình thay vì tiêu chuẩn của Chúa!

  1. e) Sau khi tra xét, c/ta phải cầu nguyện tha thiết, xưng tội với Chúa.

>C/ta chưa kinh nghiệm sự phục hưng… vì chưa xin; c/ta chưa xin vì chưa muốn; c/ta chưa muốn vì chưa thấy mình cần; c/ta chưa cần vì tự tự mãn thấy trong mình chẳng có gì cần sửa đổi hết.

# Trong 2 Sử Ký 7:14 có lời hứa gì của ĐCT? “và nhược bằng dân sự ta, là dân gọi bằng danh ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt ta, và trở lại, bỏ con đường tà, thì ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó, và cứu xứ họ khỏi tai vạ.”

>Với vụ bắn súng vừa xảy ra ở tiểu bang Oregon, tổng thống Obama có tuyên bố “Cầu nguyện chưa đủ.” Thật ra câu nói này rất đúng, vì nếu c/ta cầu nguyện mà không có sự ăn năn, từ bỏ con đường tà mà quay trở lại cùng Chúa, thì chưa đủ; những vụ bắn súng giết người sẽ còn mãi và nhiều hơn nữa, cho đến khi nào America cầu nguyện với tấm lòng ăn năn trở lại với Chúa, lúc đó mới đủ. 

>Có lần một sự phục hưng lớn xẩy ra và bắt đầu từ một vị Mục Sư tên là Evan Roberts.

>Ông là người đã bắt đầu bằng một lời cầu nguyện với chỉ có vài chữ thôi “Lord Jesus! Bend me!” Tạm dịch là “Lạy Chúa Giê-su! Hãy bẻ cong con.”

>Đây là một lời cầu nguyện hạ mình khiêm nhường, ăn năn, muốn vâng phục Chúa hoàn toàn.

>Có những khi đến giờ giảng, MS Evan Roberts không lên bục giảng, nhưng Hội thánh chỉ yên lặng cầu nguyện 3-4 tiếng đồng hồ xin Chúa “bend me, bẻ cong con.”

>Và người ta nói bỗng nhiên từ một bầu không khí yên lặng phát xuất ra những tiếng khóc, tiếng xưng tội, lời ăn năn, và có cả trăm người đến tin nhận Chúa trong buổi nhóm “yên lặng” như vậy.

>Tại sao kỳ lạ vậy? là bởi vì Chúa Thánh Linh đã đến thăm viếng những linh hồn biết hạ mình tìm kiếm Ngài hết lòng, để Chúa bẻ cong mình.

>Tôi thật mong chờ một cơn mưa phục hưng lớn trong chính đời sống của mình, và có lẽ trong chính mỗi Hội thánh của Chúa.

>Mong mỗi người c/ta đều hiệp nhất trong sự cầu xin Chúa ban cơn mưa phục hưng xuống, và bắt đầu từ trong tấm lòng của chính mình, mà cầu nguyện “Bẻ cong con, Chúa ơi!”

——————

>Quí vị có muốn tỏa hương thơm của Đấng Christ không?

>Nếu thật muốn thì c/a mỗi người phải biết tự tra xét lòng mình, cầu xin Thánh Linh trong sự ăn năn, xưng tội, gội rửa mình sạch khỏi những mùi hôi, và thế vào đó hương thơm của Đấng Christ, đó là sự khiêm nhường, một tấm lòng vâng phục theo ý Chúa, và tình yêu thương trọn vẹn cho nhau.

>Chúa Giê-su sắp trở lại rồi, c/ta sẽ đón Chúa với hai bàn tay trống rỗng và một tấm lòng dơ dáy sao?

>Hãy hết lòng hết sức mà yêu mến Chúa, hầu việc Ngài cho dù thuận thời hay nghịch thời, thì mình mới xứng đáng được Chúa gọi là những “đầy tớ trung tín và ngay lành.”

>Mong Chúa Giê-su sẽ phán cùng HTNO điều quí báu này, khi Ngài trở lại rất gần.

————- Invitation

>Cầu nguyện với Chúa cho mọi người có tấm lòng quyết định khi xong buổi nhóm sáng nay sẽ hứa nguyện điều chỉnh đời sống của mình, với sự giúp đỡ của Chúa Thánh Linh, xin Ngài gội rửa khỏi c/ta những mùi hôi, và thêm cho c/ta hương thơm của Đấng Christ, để tỏa ra cho mọi người ngửi được, khắp nơi nào mình sẽ đi.

>C/ta sẽ kinh nghiệm được quyền năng chiến thắng những cám dỗ mỗi ngày.

>C/ta sống bày tỏ sự khiêm nhường và yêu thương thành thật đối với mọi người.

>C/ta sẽ tạo cơ hội cho những người khác đọc được Kinh Thánh/Tin Lành qua chính đời sống của mình mà nhiều người biết đến Chúa.

>C/ta sẽ trở nên người có ảnh hưởng đạo một cách hữu hiệu ngay trong chính gia đình của mình.

>C/ta trở nên những người lãnh đạo sống đúng theo tiêu chuẩn của đạo để cho thế gian ngửi được Chúa Giê-su.

>C/ta chứng tỏ rõ rệt Chúa Giê-su có thật và Ngài là nguồn của quyền năng và tình yêu thương.

>Đời sống c/ta đầy dẫy đức tành khiêm nhường, vâng phục Chúa luôn trong mọi sự.

>Có bao nhiêu con cái Chúa sang nay mong ước được như vậy?

>Hãy bắt đầu bằng lời cầu nguyện “Lạy Chúa Giê-su! Xin Ngài bẻ cong con ngay bây giờ. Xin Thần Linh Chúa ban cơn mưa phục hưng đến cho chính đời sống con, cho Hội Thánh của Chúa ở đây.”

ROMANS 16

51CW85BF1VL

Personal Greetings

1 I commend to you our sister Phoebe, a servant of the church in Cenchrea.

2 I ask you to receive her in the Lord in a way worthy of the saints and to give her any help she may need from you, for she has been a great help to many people, including me.

3 Greet Priscilla and Aquila, my fellow workersin Christ Jesus.

4 They risked their lives for me. Not only I but all the churches of the Gentiles are grateful to them.

5 Greet also the church that meets at their house. Greet my dear friend Epenetus, who was the first convert to Christ in the province of Asia.

6 Greet Mary, who worked very hard for you.

7 Greet Andronicus and Junias, my relatives who have been in prison with me. They are outstanding among the apostles, and they were in Christ before I was.

8 Greet Ampliatus, whom I love in the Lord.

9 Greet Urbanus, our fellow worker in Christ, and my dear friend Stachys.

10 Greet Apelles, tested and approved in Christ. Greet those who belong to the household of Aristobulus

11 Greet Herodion, my relative. Greet those in the household of Narcissus who are in the Lord.

12 Greet Tryphena and Tryphosa, those women who work hard in the Lord. Greet my dear friend Persis, another woman who has worked very hard in the Lord.

13 Greet Rufus, chosen in the Lord, and his mother, who has been a mother to me, too.

14 Greet Asyncritus, Phlegon, Hermes, Patrobas, Hermas and the brothers with them.

15 Greet Philologus, Julia, Nereus and his sister, and Olympas and all the saints with them.

16 Greet one another with a holy kiss. All the churches of Christ send greetings.

17 I urge you, brothers, to watch out for those who cause divisions and put obstacles in your way that are contrary to the teaching you have learned. Keep away from them.

18For such people are not serving our Lord Christ, but their own appetites. By smooth talk and flattery they deceive the minds of naive people.

19Everyone has heard about your obedience, so I am full of joy over you; but I want you to be wise about what is good, and innocent about what is evil.

20The God of peace will soon crush Satan under your feet. The grace of our Lord Jesus be with you.

21 Timothy, my fellow worker, sends his greetings to you, as do Lucius, Jason and Sosipater, my relatives.

22 I, Tertius, who wrote down this letter, greet you in the Lord.

23 Gaius, whose hospitality I and the whole church here enjoy, sends you his greetings. Erastus, who is the city’s director of public works, and our brother Quartus send you their greetings.

25 Now to him who is able to establish you by my gospel and the proclamation of Jesus Christ, according to the revelation of the mysteryhidden for long ages past,

26 but now revealed and made known through the prophetic writings by the command of the eternal God, so that all nations might believe and obey him–

27 to the only wise God be glory forever through Jesus Christ! Amen.

I/ Introduction:

Let’s continue to study Romans 16, the last chapter containing the greetings of Paul and his co-workers to some special persons and the church; Paul’s advice to the church that they ought to be careful with those who cause devision and put obstacles in their way that are contrary to the teaching they have learned.

II/ New words and expressions
– To commend: giới thiệu, gởi gắm.(v1)
– To include: bao gồm (v2)
– To be a great help to: giúp đở nhiều cho …(v2)
– To risk one’s life: hy sinh mạng sống (v4).
– To be grateful to : biết ơn ai ( v3).
– To greet: chào thăm; greetings: lời chào thăm.
– The first convert: Trái đầu mùa,(v5).
– To be in prison: ở tù (v7).
– Outstanding (a) nổi bật; được tôn trọng ( 7).
– To be tested and approved in Christ: được trải nghiệm và đầy ơn trong Đấng Christ (10).
– To choose, chose, chosen ; lựa chọn .
– To be chosen : được chọn lưa ( v13).
– Hard (adv) : chăm chỉ; tích cực(v12).
– To urge : hối thúc; khuyên giục(17).
– To watch out: Canh chừng.
– To cause devision: gây chia rẻ ( 17).
– To put obstacles: Gây vấp phạm (17)
– To be contrary to :trái, nghịch với (17).
– Appetite (n) sự ăn ngon miệng ; thèm ăn (v18).
– Flattery (n) : lời đua nịnh.
– Naive ( a) thật thà (18).
– To be full of joy over (v1) rất vui về…
– To be wise about: khôn ngoan về …(19).
– Innocent (a) vô tội, thanh sạch( 19).
– To crush: Đạp nát ( 20).
– To reveal : bày tỏ; mặc khải.
– Revelation (n) : sự mặc khải, Khải thị.
– Public works (n) công trình công cọng.(v24)
– Prophetic writings: bút tích của tiên tri; văn tự do tiên tri viết ( sách tiên tri) (v26).
– Only (a) : duy nhất (26).
– Only ( adv) : chỉ

III/ Difficult sentences:
1/” Greet Ampliatus, whom I love in the Lord.” ( v8)
” whom” is non- restrictive relative pronoun ( đại từ liên hệ không giới hạn), direct object of the finite verb ” love”
( Xin chào Am-li- a, người mà tôi
yêu mến trong Chúa).
2/ “I want you to be wise about what is good and innocent about what is evil.” (v19)
-“you” is direct object of ” want”
– ” to be wise” is infinitive phrase ( ngữ nguyên mẫu), objective complement of the finite verb ” want”.
– ” what is good” and ” what is evil” are noun clauses, object of preposition ” about”.
3/ The sentence indicating a wish or a prayer:
a/ “The grace of our Lord Jesus be with you.”
” be” is present subjunctive tense ( thì hiện tại bàng thái )
We can rewrite like this:
” May the grace of our Lord Jesus be with you.”
b/ ” To the only wise God be glory forever through Jesus Christ.”
This sentence is in inversion ( đảo từ) to emphasize with the adverb phrase ” to the only wise God” placed ạt the beginning of the sentence.
This sentence can be rewritten normally like this:
” May glory forever through Jesus Christ be to the only wise God.”
According to the gammartical structure the close meaning is:
( theo cấu trúc ngữ pháp sát nghĩa là;)
” Nguyền xin sự vinh hiển đời đời bởi Chúa  Jesus Christ thuộc về Đức Chúa Trời khôn ngoan duy nhất.”
“Nguyện Đức Chúa Trời khôn ngoan duy nhất, qua Đức Chúa Jesus Christ, được vinh hiển đời đời vô cùng .” (BD 2011)
4/ ” Timothy, my fellow-worker, send his greetings to you, as do Lucius, Jason and Sosipater, my relative.” ( v21).
We can rewrite this sentence without inversion like this;
” Timothy, my fellow-worker, send his greetings to you, Lucius, Jacson and Sosipater, my relative, do, too.
5/ V25 and  v26 make up a complete compound- complex sentence .( câu phức ghép) with a co-ordinate conjunction “but”( liên từ nối) and a subordinate conjunction “so that” ( liên từ phụ thuộc).
“Now to him who is able to establish you by my gospel and the proclamation of Jesus Christ, according to the revelation of the mysteryhidden for long ages past, but now revealed and made known through the prophetic writings by the command of the eternal God, so that all nations might believe and obey him.”
” hidden for long ages past”
” revealed and made known though prophetic writings by the command of the eternal God”
are participle phrases ( ngữ phân từ)
” so that all nations might believe and obey him.” is adverb clause of purpose ( mệnh đề trạng ngữ chỉ mục đích).
In order to understand more easily we can rewrite this sentence like this:

” Now to him who is able to establish you by my gospel  and the proclamation of Jesus Christ, according to the revelation of the mystery which was hidden for long ages past, but now which has been revealed and ( has been) made known through the prophetic writings by the command of the eternal God, so that all nations might believe and obey him” .

Now it is more clear for you to understand and you might have a good translation of yourselves.
“Chúc tụng Đấng có quyền làm vững mạnh anh chị em theo Tin Mừng tôi rao giảng , tức sự rao giảng  về Đức Chúa Jesus Christ, theo sự mặc Khải về huyền nhiệm vốn được giử kín từ ngàn xưa, nhưng bây giờ được tỏ ra và qua bút tích của các vị tiên tri theo lệnh của Đức Chúa Trời hằng sống , để tất cả các dân ngoại được biết mà tôn thờ Chúa và vâng phục Ngài.” ( BD 2011).

May God bless us, who are studying His words and obey Him.
Ephesians 1:17 “I keep asking that the God of our Lord Jesus Christ, the glorious Father, may give you the Spirit of wisdom and revelation, so that you may know him better.”
( prepared by Pastor JosephNa).

Ban Biên Tập.

ROMANS 15

51CW85BF1VL

1 We who are strong ought to bear with the failings of the weak and not to please ourselves.

2 Each of us should please his neighbor for his good, to build him up.

3 For even Christ did not please himself but, as it is written: “The insults of those who insult you have fallen on me.”

4 For everything that was written in the past was written to teach us, so that through endurance and the encouragement of the Scriptures we might have hope.

5 May the God who gives endurance and encouragement give you a spirit of unity among yourselves as you follow Christ Jesus,

6 so that with one heart and mouth you may glorify the God and Father of our Lord Jesus Christ.

7 Accept one another, then, just as Christ accepted you, in order to bring praise to God.

8 For I tell you that Christ has become a servant of the Jews on behalf of God’s truth, to confirm the promises made to the patriarchs

9 so that the Gentiles may glorify God for his mercy, as it is written: “Therefore I will praise you among the Gentiles; I will sing hymns to your name.”

10 Again, it says, “Rejoice, O Gentiles, with his people.”

11 And again, “Praise the Lord, all you Gentiles, and sing praises to him, all you peoples.”

12 And again, Isaiah says, “The Root of Jesse will spring up, one who will arise to rule over the nations; the Gentiles will hope in him.”

13 May the God of hope fill you with all joy and peace as you trust in him, so that you may overflow with hope by the power of the Holy Spirit.

Paul the Minister to the Gentiles

14 I myself am convinced, my brothers, that you yourselves are full of goodness,complete in knowledge and competent to instruct one another.

15 I have written you quite boldly on some points, as if to remind you of them again, because of the grace God gave me

16 to be a minister of Christ Jesus to the Gentiles with the priestly duty of proclaiming the gospel of God, so that the Gentiles might become an offering acceptable to God, sanctified by the Holy Spirit.

17 Therefore I glory in Christ Jesus in my service to God.

18 I will not venture to speak of anything except what Christ has accomplished through me in leading the Gentiles to obey God by what I have said and done–

19 by the power of signs and miracles, through the power of the Spirit. So from Jerusalem all the way around to Illyricum, I have fully proclaimed the gospel of Christ.

20 It has always been my ambition to preach the gospel where Christ was not known, so that I would not be building on someone else’s foundation.

21 Rather, as it is written: “Those who were not told about him will see, and those who have not heard will understand.”

22 This is why I have often been hindered from coming to you.

Paul’s Plan to Visit Rome

23 But now that there is no more place for me to work in these regions, and since I have been longing for many years to see you,

24 I plan to do so when I go to Spain. I hope to visit you while passing through and to have you assist me on my journey there, after I have enjoyed your company for a while.

25 Now, however, I am on my way to Jerusalem in the service of the saints there.

26 For Macedonia and Achaia were pleased to make a contribution for the poor among the saints in Jerusalem.

27 They were pleased to do it, and indeed they owe it to them. For if the Gentiles have shared in the Jews’ spiritual blessings, they owe it to the Jews to share with them their material blessings.

28 So after I have completed this task and have made sure that they have received this fruit, I will go to Spain and visit you on the way.

29 I know that when I come to you, I will come in the full measure of the blessing of Christ.

30 I urge you, brothers, by our Lord Jesus Christ and by the love of the Spirit, to join me in my struggle by praying to God for me.

31 Pray that I may be rescued from the unbelievers in Judea and that my service in Jerusalem may be acceptable to the saints there,

32 so that by God’s will I may come to you with joy and together with you be refreshed.

33 The God of peace be with you all. Amen.

I/ Introductrion 

Let us continue to study Romans 15 containing the main ideas:

– The strong ought to bear the failings of the weak.
– Paul’s ministry to the Gentiles.
– Paul’s plan to visit Rome on the way to Spain.


II/ New words and expressions   
– failing(n): nhược điểm; khuyết điểm.
– Ought to ( defective verb): nên ( với bổn phận và trách nhiệm.(v1)
Ought not ( negative).
– To insult (v) lăng mạ; sỉ nhục; (n): lời lăng mạ, sỉ nhục.(v3)
– in order to ( prep) để. (v7)
– Partriarch (n) tổ phụ. (v8)
– Peoples (n) các dân tộc.( noun in plural)
– To overflow(v) dư dật (v13).
– To convince: tin chắc (v14).
– Competent (a): có tài năng; giỏi.
– priest (n) thầy tế lễ; priestly   (a) thuộc về thầy tế lễ  ( v16).
– To venture : liều; cả gan; dám.(v18).
( saying: ” No venture, no win”: được ăn cả, ngả về không ).
– To long: mong  mỏi; ước mong.(23).
– Now that ( conjunction): vì


III/ Dificult sentences .
1/” We who are strong ought to bear with the failings of the weak and not to please ourselves.” ( v1)
This sentence has 2 clauses:
– Main clause is ” We ought to bear with the  failings of the weak and ( ought) not to please ourselves”.
– Subordinate clause  (Adjective relative clause) : ” who are strong”  modifying the main clause.
( Sát nghĩa theo cấu trúc ngữ pháp câu này có nghĩa:
Chúng ta người mạnh mẽ nên ( với bổn phận ) mang lấy những nhược điểm của kẻ yếu và không nên tự thỏa lòng mình.)
“vậy, chính ta là kẻ mạnh, hãy gánh vác sự yếu đuối của những kẻ kém sức, chớ làm đẹp lòng mình.”( bản dịch của MS tiến sĩ Nguyễn Cảnh năm 2014).


2/ “The insults of those who insult you have fallen on me.” (v3b)
– Main clause is ” The insults of those ( people) have fallen on me”
– Subordinate clause ( mệnh đề phụ) : “Who insult you” ( relative clause modifying the people)
( những lời sĩ nhục của kẻ sỉ nhục Ngài đã ( và còn) đổ trên con.)
” Lời trách móc của những kẻ trách móc Ngài xin đổ trên con” ( Bảm dịch 2014 của MS Nguyễn Cảnh ).


3/ “For everything that was written in the past was written to teach us, so that through endurance and the encouragement of the Scriptures we might have hope.” ( v4)
In this sentence there are 3 clauses:
-Main clause :“For Everything was written to teach us”
– Relative clause ” that was written in the past” modifying ” everything”
– Adverb clause of purpose ” so that through endurance and the encouragement of the Scripture we might have hope.”
We can rewrite this clause like this:
So that we might have hope through endurance and the encouragement of the Scripture.
( According to the grammartical structure of the sentence which has meaning : Mọi sự mà đã được chép trong quá khứ thì đã được chép để dạy dỗ chúng ta để bởi sự nhịn nhục và sự khích lệ của kinh thánh mà chúng ta có thể có được sự hy vọng.)
” Mọi sự đã được chép từ xưa  là để dạy dỗ chúng ta, hầu cho bởi sự nhịn nhục và sự an ủi của Thánh kinh dạy mà chúng ta được sự trông cậy” ( 2014 MSTS NC).

4/ “May the God who gives endurance and encouragement give you a spirit of unity among yourselves as you follow Christ Jesus, so that with one heart and mouth you may glorify the God and Father of our Lord Jesus Christ.”  ( v 5+6)
According to the grammartical structure v5 and V6 make up a complete sentence .
V5 is main clause with a subordinate clause ( relative clause: ” who gives endurance and encouragement”. And the adverb clause of time ” As you follow Christ Jesus”
V6 is adverb clause of purpose ( mệnh đề trạng ngữ chỉ mục đích) (nguyền xin Đức Chúa Trời Đấng kcho anh em sự chịu đựng và sự khích lệ ban cho anh em một tâm tình hiệp một trong vòng anh em khi anh em theo Christ Jesus để với một lòng và một miệng  anh em có thể ca ngợi Đức Chúa Trời và là Cha của chúa Jesus Christ chúng ta)


5/ “
But now that there is no more place for me to work in these regions, and since I have been longing for many years to see you, I plan to do so when I go to Spain. I hope to visit you while passing through and to have you assist me on my journey there, after I have enjoyed your company for a while.”  (v 23+ 24).
Two these verses build up a complete sentence.
+ Main clause ” I plan to do so”
+ 3 subordinate clauses:
Among them:
– 2 adverb clauses of reason ( mệnh đề trạng ngữ chỉ lý do)
a/ ” Now that ( vì) there is no more place for me to work in these regions”
b/ ” Since ( vì) I have been longing for many years to see you.”
b/ the adverb clause of time ( mệnh đề trạng ngữ chỉ thời gian) ” when I go to Spain” ( khi tôi đi đến Tây Ban Nha (Y Pha Nho).
Conclusion:
I think after studying Romans 15 you can understand God’s will more clearly.

” I keep asking that the God of our Lord Jesus Christ, the glorious Father, may give you the Spirit of wisdom and revelation, so that you may know him better” ( Ephesians 1:17)

BAN BIÊN TẬP
( Prepared by Mục sư  Nguyễn Đức Na)
Giáo Hôi Tin Lành Liên Hiệp
Toàn Cầu-Việt Nam.

ROMANS 14

51CW85BF1VL

The Weak and the Strong

1 Accept him whose faith is weak, without passing judgment on disputable matters.

2 One man’s faith allows him to eat everything, but another man, whose faith is weak, eats only vegetables.

3 The man who eats everything must not look down on him who does not, and the man who does not eat everything must not condemn the man who does, for God has accepted him.

4 Who are you to judge someone else’s servant? To his own master he stands or falls. And he will stand, for the Lord is able to make him stand.

5One man considers one day more sacred than another; another man considers every day alike. Each one should be fully convinced in his own mind.

6 He who regards one day as special, does so to the Lord. He who eats meat, eats to the Lord, for he gives thanks to God; and he who abstains, does so to the Lord and gives thanks to God.

7 For none of us lives to himself alone and none of us dies to himself alone.

8 If we live, we live to the Lord; and if we die, we die to the Lord. So, whether we live or die, we belong to the Lord.

9 For this very reason, Christ died and returned to life so that he might be the Lord of both the dead and the living.

10 You, then, why do you judge your brother? Or why do you look down on your brother? For we will all stand before God’s judgment seat.

11 It is written: ” ‘As surely as I live,’ says the Lord, ‘every knee will bow before me; every tongue will confess to God.’ ”

12 So then, each of us will give an account of himself to God.

13 Therefore let us stop passing judgment on one another. Instead, make up your mind not to put any stumbling block or obstacle in your brother’s way.

14 As one who is in the Lord Jesus, I am fully convinced that no food is unclean in itself. But if anyone regards something as unclean, then for him it is unclean.

15 If your brother is distressed because of what you eat, you are no longer acting in love. Do not by your eating destroy your brother for whom Christ died.

16 Do not allow what you consider good to be spoken of as evil.

17 For the kingdom of God is not a matter of eating and drinking, but of righteousness, peace and joy in the Holy Spirit,

18 because anyone who serves Christ in this way is pleasing to God and approved by men.

19 Let us therefore make every effort to do what leads to peace and to mutual edification.

20 Do not destroy the work of God for the sake of food. All food is clean, but it is wrong for a man to eat anything that causes someone else to stumble.

21 It is better not to eat meat or drink wine or to do anything else that will cause your brother to fall.

22 So whatever you believe about these things keep between yourself and God. Blessed is the man who does not condemn himself by what he approves.

23 But the man who has doubts is condemned if he eats, because his eating is not from faith; and everything that does not come from faith is sin.

I/ Introduction:
Let’s continue to study Romans 14 which expresses the ideas  of accepting the person whose faith is weak without passing judgement on disputable matters with some clear examples.

II/ Vocabulary:
– To pass judgement on a matter (v1): đưa ra nhận xét/ định tội một vấn đề.
– Disputable (a) :có thể tranh cải (v1).
– To look down: khinh dễ; coi thường.
– Condemn: xét đoán; kết án(v3).
– To abstain: kiên cử; nhịn (v6).
– Judgement/ judgment seat: toà án (10).
– To bow: cúi đầu; khom lưng; quỳ gối. (V11)
– To give an account ( of): Khai trinh ( về).(12)
– To make up one’s mind: quyết định.( 13)
– obstacle (n) chướng ngại vật.(13)
– Convinced (a): tin chắc.(14)
– Distressed (a) đau buồn (25)
– To make every effort:cố gắng hết sức mình.(19)
– Edification (n): sự soi sáng (19)
– Edifying )v) soi sáng.
– For the sake of: vì (20) ; for God’s sake: vì Chúa,
– To cause: gây ra ( 21).

III/ Difficult sentences:

1/ Accept him whose faith is weak, without passing judgment on disputable matters.” ( v1)

” passing” is gerund ( danh động từ) because it is the object of preposition ” without”.

Dịch sát theo ngữ pháp của câu:

(Hãy tiếp nhận người mà đức tin của họ còn yếu mà không bàn luận để định tội)

– Hãy tiếp nhận người yếu đức tin, đừng tranh luận với họ về các quan điểm ( Bản tuyền thống hiệu đính)

Mục sư tiến sĩ Nguyễn Cảnh theo Ông dịch từ bản gốc tiếng Hy lạp: Hãy tiếp nhận kẻ kém đức tin, đừng có ý đoán xét.

2/Who are you to judge someone else’s servant?”  (v4a).

We can use possessive case with someone else:

” someone else’s servant”

( đày tớ của một người ( nào đó) khác.)

Some other examples:

a/ “And if  you have not been trustworthy with someone else’s property who will give you property of your own.” ( Luke 16:12)

b/ ” It has always been my ambition to preach the Godpel where Christ was not known, so that I would not be building on someone else’s foundation”.

( Sự ham muốn của tôi  luôn luôn là giảng phúc âm ở nơi nào mà Đấng Christ chưa được biết đến để tôi sẽ không lập trên nền của người khác.)

Lưu ý trong câu này ” It “ is expletive , false subject; ” to preach Gospel …” is the real subject.

“Would not be building” is subjunctive tense ( thì giả định).

c/ Naomi said to Ruth, her daughter-in-law,” It will be good for you, my daughter, to go with the women who work for him, because someone else’s field you might be harmed.” ( Ruth2:22)

3/ One man considers one day more sacred than another; another man considers every day alike. Each one should be fully convinced in his own mind.” (v5)

“Consider” is the kind of verb which has an object and an objective complement .

” one day” and ” every day” are objects .

” more sacred than other” and ” alike” are objective complements

(Một người coi/ xem một ngày (là)

thánh hơn ngày khác; người khác lại coi mọi ngày ( thì) giống nhau.

4/ For this very reason, Christ died and returned to life so that he might be the Lord of both the dead and the living.” (V9)

” dead” and ” living” are adjectives  used as a noun with article ” the” put right before it.( hạng người sống và loại người chết )

” The Weak and the Strong” are used in the same way.

5/ So whatever you believe about these things keep between yourself and God. Blessed is the man who does not condemn himself by what he approves.” ( V22)

” whatever” is double relative pronoun which means ” anything that”

We can rewrite this sentence like this:

So anything that you believe about these things keep between yourself and God. Blessed is the man who does not condemn himself by what he approved.

Relative pronouns ” that” must be used after indefinite pronoun ” anything”

Sát nghĩa theo ngữ pháp trong câu thì có thể hiểu như sau :

Bất cứ điều gì mà ngươi tin về các việc này hãy giữ giữa ngươi và Đức Chúa Trời.Phước cho kẻ không định tội  chính mình bởi những gì mình đã ưng thuận.

6/ But the man who has doubts is condemned if he eats, because his eating is not from faith; and everything that does not come from faith is sin.”  (v 23)

Relative pronoun “that” must be used after indefinite pronoun ” everything” that is we may not use relative pronoun “which” here.

Các bạn có thể hiểu rõ nghĩa của câu theo ngữ pháp đã được sử dụng.

MS TS Nguyễn Cảnh dịch như vầy theo nguyên ngữ Hy lạp :

Những ai có lòng nghi ngờ về đồ mình ăn, thì người ấy đã bị định tội rồi , vì chẳng làm bởi đức tin. Phàm làm điều chi không bởi đức tin là tội lỗi.

We hope to help you to study Bible (NIV) through grammar and you can understand God’s will more clearly.
Ban Biên Tập.
( Prepared by MS  JosephNa)

Post Navigation